Riêng tháng 6/2019 xuất khẩu 599.217 tấn gạo, tương đương 265,43 triệu USD, giá trung bình 443 USD/tấn, giảm 11,7% về lượng và giảm 9,7% về kim ngạch nhưng tăng 2,3% về giá so với tháng 5/2019; so với cùng tháng năm 2018 cũng tăng 11,4% về lượng nhưng giảm 5,6% về kim ngạch và giảm 15,2% về giá.
Xuất khẩu gạo sang thị trường Philippines – thị trường tiêu thụ gạo hàng đầu của Việt Nam tăng rất mạnh 217,4% về lượng và tăng 165,8% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018, đạt 1,22 triệu tấn, tương đương 487,65 triệu USD, chiếm 36,3% trong tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước và chiếm 33,7% trong tổng kim ngạch. Tuy nhiên, giá xuất khẩu sang thị trường này lại giảm 16,2%, đạt 400 USD/tấn.
Trái lại, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc – thị trường lớn thứ 2 lại sụt giảm rất mạnh cả về lượng, kim ngạch và giá, với mức giảm tương ứng 67,6%, 69,4% và 5,5% so với cùng kỳ, đạt 288.717 triệu tấn, tương đương 145,27 triệu USD, giá 503,2 USD/tấn, chiếm 8,6% trong tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước và chiếm 10% trong tổng kim ngạch.
Tiếp theo là thị trường Malaysia đạt 361.110 tấn, tương đương 138,58 triệu USD, chiếm 10,8% trong tổng lượng và chiếm 9,6% trong tổng kim ngạch, tăng 18,7% về lượng và tăng 0,3% về kim ngạch so với cùng kỳ. Giá xuất khẩu đạt 383,8 USD/tấn, giảm 15,6%.
Xuất khẩu gạo sang Bờ biển Ngà cũng đạt mức tăng trưởng tốt 131,2% về lượng và tăng 67,4% về kim ngạch, đạt 257.356 tấn, tương đương 111,15 triệu USD, chiếm 7,7% trong tổng lượng và tổng kim ngạch.
Nhìn chung, xuất khẩu gạo sang đa số các thị trường trong 6 tháng đầu năm nay tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018; trong đó xuất khẩu sang Senegal và Brunei tăng vượt trội; cụ thể xuất sang Senegal tăng gấp 30,7 lần về lượng và gấp 22,2 lần về kim ngạch, mặc dù chỉ đạt 1,443 tấn, tương đương 0,74 triệu USD; Brunei tăng gấp 16,2 lần về lượng và gấp 15,7 lần về kim ngạch, đạt 5.245 tấn, tương đương 2,18 triệu USD. Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tăng mạnh trên 100% cả về lượng và kim ngạch ở các thị trường như: Bỉ, Angola, Hà Lan, Ba Lan.
Ngược lại, xuất khẩu gạo sang Indonesia giảm mạnh nhất, giảm 97% cả về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, chỉ đạt 21.058 tấn, tương đương 9,34 triệu USD. Ngoài ra, xuất khẩu gạo sang Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh, Algeria cũng giảm rất mạnh 69 – 87% cả về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2019

Thị trường

6T/2019

So với cùng kỳ năm trước (%)*

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

 

Lượng (tấn)

Tổng cộng

3.356.212

1.448.709.516

-3,65

-18,09

Philippines

1.219.076

487.653.609

217,35

165,81

Trung Quốc đại lục

288.717

145.268.771

-67,62

-69,41

Malaysia

361.110

138.580.008

18,72

0,26

Bờ Biển Ngà

257.356

111.147.141

131,19

67,4

Iraq

180.075

90.931.500

20,05

6,28

Ghana

165.730

78.885.389

11,41

-11,46

Hồng Kông (TQ)

69.020

34.939.365

76,84

55,94

Singapore

43.326

23.536.931

2,7

-0,09

U.A.E

24.065

12.809.787

-0,17

-3,34

Mozambique

25.213

11.576.264

 

 

Indonesia

21.058

9.337.117

-96,93

-97,1

Saudi Arabia

15.530

8.499.987

 

 

Đài Loan (TQ)

11.678

5.238.615

9,06

-3,93

Mỹ

7.338

4.890.014

-26,55

-20,4

Cộng hòa Tanzania

9.029

4.769.547

 

 

Nga

11.434

4.747.745

89,27

79,25

Australia

6.978

4.470.416

55,83

48,77

Angola

10.276

3.722.273

329,24

212,46

Brunei

5.245

2.182.770

1.523,84

1.466,37

Hà Lan

3.360

1.741.157

120,62

107,93

Ba Lan

2.877

1.554.060

116,97

103,01

Nam Phi

2.746

1.392.912

46,77

28,56

Algeria

3.213

1.308.766

-68,88

-71,49

Senegal

1.443

743.993

2.970,21

2.121,34

Ukraine

872

497.955

15,5

11,06

Pháp

885

496.759

17,84

-11,01

Thổ Nhĩ Kỳ

1.046

449.982

-76,36

-82,3

Bỉ

556

431.277

135,59

204,28

Bangladesh

522

297.855

-87,09

-81,37

Chile

419

222.444

122,87

52,48

Tây Ban Nha

270

125.714

-43,04

-48,91

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)