Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, sản phẩm túi xách, ví, va li, mũ, ô, dù của Việt Nam xuất khẩu ra thị trường nước ngoài trong 2 quý đầu năm 2018 sụt giảm 1,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, đạt trên 1,63 tỷ USD.

Riêng tháng 6/2018 đạt 290,55 triệu USD, giảm 2% so với tháng 5/2018 và giảm 5,6% so với tháng 6/2017.

Nhóm sản phẩm này xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Mỹ chiếm tới 36,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu túi xách, ví, va li, mũ, ô, dù của cả nước, đạt 590,89 triệu USD, giảm 12,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng tháng 6/2018 xuất sang Mỹ đạt 101,28 triệu USD, giảm 10,9% so với tháng 5/2018 và giảm 16,8% so với tháng 6/2017.

Thị trường lớn thứ 2 là Nhật Bản đạt 182,9 triệu USD, chiếm 11,2%, tăng 1,7%. Trong đó tháng 6/2018 đạt 30,33 triệu USD, tăng 6,5% so với tháng 5/2018 nhưng giảm 9,9% so với cùng tháng năm ngoái.

Tiếp sau đó là thị trường Hà Lan trong tháng 6/2018 kim ngạch đạt 31,65 triệu USD, tăng 10% so với tháng liền kề trước đó và tăng 8,3% so với cùng tháng năm 2017, nâng kim ngạch cả 6 tháng sang thị trường này lên  168,9 triệu USD, chiếm 10,3%, tăng 12% so với cùng kỳ.

Nhóm hàng này xuất khẩu sang khối EU nói chung chiếm 28,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đạt 472,46 triệu USD, tăng 9% so với cùng kỳ.

Trong 6 tháng đầu năm nay, thị trường Séc nổi bật lên với mức tăng kim ngạch vượt trội 290% so với cùng kỳ năm ngoái, mặc dù kim ngạch chỉ đạt 4,2 triệu USD. Ngoài, ra, xuất khẩu còn tăng trưởng cao trên 20% ở các thị trường như: Ba Lan tăng 38,9%, đạt 5,48 triệu USD; Brazil tăng 23%, đạt 5,22 triệu USD; Australia tăng 22,4%, đạt 27,38 triệu USD.

Ngược lại, xuất khẩu túi xách va li sang thị trường Đan Mạch sụt giảm mạnh nhất 36,9% so với cùng kỳ, chỉ đạt 3,83 triệu USD. Xuất khẩu sang Malaysia, Singapore, Thụy Sĩ và Đài Loan cũng giảm mạnh, với mức giảm lần lượt 27,6%, 23,4%, 12,7% và 12,4%.

Xuất khẩu túi xách, ví, va li 6 tháng đầu năm 2018

 ĐVT: USD 

Thị trường

T6/2018

+/- so với T5/2018

6T/2018

+/- so với cùng kỳ (%)*

Tổng kim ngạch XK

290.546.979

-1,97

1.632.356.258

-1,45

Mỹ

101.280.486

-10,86

590.892.426

-12,66

Nhật Bản

30.329.322

6,5

182.900.850

1,66

Hà Lan

31.647.030

10,07

168.899.037

12,02

Đức

12.546.513

-19,39

84.676.111

-0,85

Trung Quốc

13.520.898

-22,47

78.942.004

8,72

Hàn Quốc

11.583.727

15,73

71.906.097

5,42

Bỉ

14.466.095

29,63

58.471.818

13,68

Pháp

11.093.963

-16,1

57.568.819

16,23

Anh

9.494.473

22,7

42.140.753

7,3

Hồng Kông (TQ)

10.217.771

111,96

36.380.330

-7,21

Canada

5.992.820

-23,08

32.536.166

-1,96

Australia

7.449.964

51,14

27.381.239

22,38

Italia

5.083.975

29,32

26.110.791

-0,41

U.A.E

1.471.159

-53,46

14.355.946

-5,04

Tây Ban Nha

2.252.779

-0,53

11.883.662

9,9

Nga

1.293.204

37,22

10.147.267

14,65

Thụy Điển

2.034.467

7,01

9.198.337

3,29

Singapore

662.034

-46,35

7.668.186

-23,35

Đài Loan (TQ)

1.392.911

-12,52

7.613.093

-9,93

Thái Lan

888.893

-23,34

6.627.748

-8,87

Mexico

763.967

-52,24

6.283.958

-0,92

Ba Lan

644.071

-27,33

5.481.266

38,85

Brazil

890.903

4,95

5.223.938

22,98

Malaysia

659.837

7,15

4.355.925

-27,61

Séc

1.652.107

108,51

4.200.787

290,23

Đan Mạch

649.918

26,57

3.830.587

-36,91

Thụy Sỹ

258.407

-45,23

2.552.064

-12,37

Na Uy

232.107

51,25

2.350.942

-2,52

(Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)