Theo tính toán từ số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan, lượng sắt thép nhập khẩu về Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2017 giảm gần 19% so với cùng kỳ (đạt gần 9 triệu tấn), nhưng trị giá tăng 16,7% (đạt 5,24 tỷ USD); trong đó riêng tháng 7 nhập khẩu gần 1,1 triệu tấn, trị giá 633,18 triệu USD (tăng 0,4% về lượng nhưng giảm 2,5% về trị giá so với tháng 6/2017).

Trong 7 tháng đầu năm nay, nhập khẩu sắt thép từ các thị trường lớn đều giảm về số lượng nhưng trị giá lại tăng. Cụ thể: nhập khẩu từ Trung Quốc giảm 31,7% về lượng nhưng tăng 16,7% về trị giá so với cùng kỳ (đạt trên 4,5 triệu tấn, trị giá gần 2,52 tỷ USD; nhập từ Nhật Bản giảm 20,7% về lượng, nhưng tăng 14,4% về trị giá (đạt 1,3 triệu tấn, trị giá 778,7 triệu USD); từ Hàn Quốc giảm 4% về lượng, nhưng tăng 30,4% về trị giá (đạt 979.484 tấn, trị giá 690,78 triệu USD); từ Đài Loan giảm 18% về lượng, nhưng tăng 15,9% về trị giá (đạt 878.383 tấn, trị giá 480,21 triệu USD)

Riêng sắt thép nhập khẩu từ thị trường Ấn Độ vẫn tăng không ngừng, tăng gấp 16 lần về lượng và tăng gấp 11 lần về trị giá so với cùng kỳ (đạt 838.491 tấn, trị giá trên 437,74 triệu USD).

Bên cạnh đó, nhập khẩu sắt thép cũng tăng mạnh trên 100% cả về lượng và trị giá ở một số thị trường như: nhập từ Thổ Nhĩ Kỳ tăng mạnh 373% về lượng và tăng 393% về trị giá; Brazil tăng 679% về lượng và tăng 1.142% về trị giá; Italia tăng 196% về lượng và tăng 191% về trị giá; Ucraina tăng 577% về lượng và tăng 491% về trị giá; Anh tăng 410% về lượng và tăng 198% về trị giá.

Tại thị trường trong nước, theo số liệu của Hiệp hội Thép Việt Nam, sản lượng thép xây dựng toàn thị trường sản xuất ra trong tháng 7-2017 đạt 780.000 tấn, tăng 24% so với cùng kỳ 2016 và tăng 7% so với tháng trước. Tính chung 7 tháng đầu năm 2017, sản lượng thép xây dựng của cả nước đạt gần 5,2 triệu tấn, tăng 13,5% so với cùng kỳ 2016. Doanh số bán hàng thép các loại trong nước đạt khoảng 5,14 triệu tấn, tăng tương ứng là 14,5% so với cùng kỳ năm trước.

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, với các nhà máy phía Bắc tăng giá thép 4 lần, mức tăng gộp dao động trong khoảng 750-850 đồng/kg trong tháng 7 từ mức giá 10.300 đồng/kg lên 11.150 đồng/kg. Cùng lúc đó, các nhà máy phía Nam tăng giá 3-4 lần, mức tăng gộp từ 900 đến 1.200 đồng/kg, 10.450-11.400 đồng/kg.

Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết một số yếu tố tác động đến giá thép xây dựng trong nước như giá thép phế, giá phôi thép tăng. Cụ thể, giá thép phế liệu tăng 26,5 USD/tấn từ 275-280 USD/tấn lên 303-305 USD/tấn trong tháng 7-2017. Giá thép phế liệu nội địa tăng từ mức 5.950-6.150 đồng/kg lên mức 6.350-6.550 đồng/kg.

Nhập khẩu sắt thép 7 tháng đầu năm 2017

Thị trường

7T/2017

 

% so sánh với cùng kỳ

 

Tấn

 

USD

 

Lượng

 

Trị giá

Tổng cộng

8.997.445

5.241.327.448

-18,93

+16,70

Trung Quốc

4.479.379

2.521.633.208

-31,68

+0,21

Nhật Bản

1.305.160

778.699.376

-20,65

+14,39

Hàn Quốc

979.484

690.775.656

-4,05

+30,43

Đài Loan

878.383

480.205.780

-18,18

+15,87

Ấn Độ

838.491

437.744.804

+1554,09

+1043,97

Nga

135.902

66.547.165

-69,69

-48,67

Brazil

123.191

61.699.924

+678,85

+1142,58

Thái Lan

63.657

50.501.697

+13,88

+32,72

Indonesia

46.461

23.501.146

+98,99

+128,69

Malaysia

19.362

25.046.983

-52,89

-18,86

Australia

16.264

7.805.299

-76,94

-66,39

NewZealand

10.781

4.277.735

+93,66

+159,81

Đức

9.732

15.048.395

+47,79

+136,82

Bỉ

9.625

5.258.699

+24,32

-0,52

Italia

7.275

6.763.644

+195,61

+191,31

Ả Rập Xê Út

5.570

2.244.402

-7,66

-3,38

Hoa Kỳ

5.507

7.544.822

-4,56

+11,17

Nam Phi

4.183

6.325.797

+61,69

+120,61

Anh

2.775

2.225.376

+410,11

+198,30

Thổ Nhĩ Kỳ

2.124

1.669.456

+373,05

+393,09

Hà Lan

2.030

1.608.016

-11,93

-10,86

Thuỵ Điển

1.995

5.421.033

+48,33

+13,86

Tây Ban Nha

1.814

2.014.763

+8,82

+18,82

Singapore

1.662

2.329.738

-16,36

-35,16

Hồng Kông

1.422

1.048.320

-17,90

-8,24

Pháp

1.334

2.427.921

-37,37

+4,65

Phần Lan

890

2.401.693

-60,91

-50,26

Mexico

793

772.180

-10,80

+18,21

Philippines

504

553.339

-40,00

-32,74

Ucraina

481

286.846

+577,46

+490,85

Ba Lan

446

743.079

-45,28

-60,77

Áo

361

1.075.878

+62,61

-48,25

Canada

347

256.122

+5,47

+47,06

Đan Mạch

67

169.823

-30,21

-22,42