Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 3/2019 vẫn là Argentina, Mỹ, Brazil và Trung Quốc... Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 124 triệu USD, tăng 35,41% so với tháng trước đó và tăng 21,76% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL trong 3 tháng đầu năm 2019 lên hơn 327 triệu USD, chiếm 33,8% thị phần.

Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 3/2019 đạt hơn 46 triệu USD, tăng 9,88% so với tháng 2/2019 nhưng giảm 43,2% so với tháng 3/2018. Tính chung, trong 3 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt  hơn 175 triệu USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2018.

Đứng thứ ba là Brazil với kim ngạch nhập khẩu hơn 32 triệu USD, tăng 131,93% so với tháng 2/2019 và tăng 3,87% so với tháng 3/2018, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm 2019 lên hơn 81 triệu USD, tăng 1,51% so với cùng kỳ năm 2018.

Tính chung, trong 3 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã chi hơn 969 triệu USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 5,38% so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh  trong thời gian này là: Chile với 3,1 triệu USD, tăng 251,55% so với cùng kỳ năm 2018, Tây Ban Nha với 3,9 triệu USD, tăng 184,2% so với cùng kỳ năm 2018, Australia với hơn 8,4 triệu USD, tăng 182,18% so với cùng kỳ năm 2018, sau cùng là Italia với hơn 16 triệu USD, tăng 46,26% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu TĂCN & NL 3 tháng đầu năm 2019 theo thị trường

ĐVT: nghìn USD

Thị trường

T3/2019

+/- So với

T3/2018 (%)

3T/2019

+/- So với 3T/2018 (%)

Tổng KN

345.024

1,01

969.898

5,38

Argentina

124.049

21,76

327.904

1,66

Ấn Độ

16.365

9,99

55.934

-17,93

Anh

41

-74,31

178

-48,46

Áo

25

-96,21

791

-55,97

Bỉ

959

-73,19

3.415

-65,80

Brazil

32.011

3,87

81.311

1,51

UAE

1.856

-80,35

6.054

-72,89

Canada

4.965

70,54

9.517

41,60

Chile

951

276,02

3.124

251,55

Đài Loan (TQ)

6.159

-27,09

14.730

-14,48

Đức

1.041

27,96

2.729

-2,40

Hà Lan

1.598

0,20

5.587

21,78

Hàn Quốc

5.359

14,84

11.680

13,49

Mỹ

46.075

-43,20

175.129

19,00

Indonesia

6.312

-16,90

20.998

-25,79

Italia

6.610

79,25

16.903

46,26

Malaysia

2.840

4,79

6.856

-15,19

Mexico

127

-64,39

717

-47,66

Nhật Bản

92

-68,52

589

14,35

Australia

2.367

231,28

8.485

182,18

Pháp

3.625

14,82

9.531

22,06

Philippin

2.770

30,33

4.680

-4,96

Singapore

1.050

-40,38

4.246

-0,73

Tây Ban Nha

943

119,62

3.959

184,20

Thái Lan

12.161

-12,28

29.531

11,64

Trung Quốc

17.965

7,98

49.173

-8,42

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật trong 3 tháng đầu năm 2019.

Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 3 tháng đầu năm 2019

Mặt hàng

3T/2019

+/- So với 3T/2018

Lượng (nghìn tấn)

Trị giá (nghìn USD)

Lượng (%)

Trị giá (%)

Lúa mì

506

141.513

-57,6

-51,1

Ngô

2.048

433.797

5,9

16,9

Đậu tương

437

173.592

11,9

4,1

Dầu mỡ động thực vật

 

162.250

 

-10,6

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Lúa mì: Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 3/2019 đạt 138 nghìn tấn với kim ngạch đạt 37 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 3 tháng đầu năm 2019 lên hơn 506 nghìn tấn, với trị giá hơn 141 triệu USD, giảm 57,55% về khối lượng và giảm 51,08% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong  3 tháng đầu năm 2019 là Nga chiếm 36% thị phần; Australia chiếm 31%, Canada chiếm 10%, Brazil chiếm 16% và Mỹ chiếm không đáng kể.

Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều giảm mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2018 là Mỹ, Australia, Nga và Canada. Trong 3 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu lúa mì Mỹ giảm 99,1% về lượng và giảm mạnh 98,93% về trị giá so với cùng kỳ. Tiếp theo là Australia giảm 67,01% về lượng và giảm 61,72% về trị giá so với cùng kỳ. Nga giảm 60,15% về lượng và giảm 48,64% về trị giá so với cùng kỳ. Sau cùng là Canada giảm 56,68% về lượng và giảm 56,97% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Duy nhất chỉ có Brazil tăng mạnh 48,12% về lượng và 89,71% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Đậu tương: Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 3/2019 đạt 112 nghìn tấn với trị giá hơn 45 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 3 tháng đầu năm 2019 lên hơn 437 nghìn tấn và 173 triệu USD, tăng 11,92% về khối lượng và tăng 4,06% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Ngô: Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 3/2019  đạt hơn 435 nghìn tấn với trị giá đạt 93 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 3 tháng đầu năm 2019 lên hơn 2 triệu tấn, trị giá hơn 433 triệu USD, tăng 5,93% về khối lượng và 16,94% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Brazil và Argentina là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 72% và 25% thị phần. Tuy nhiên, trong 3 tháng đầu năm 2019 nhập khẩu ngô từ thị trường Argentina giảm mạnh 63,2% về lượng và 59,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.