Trung Quốc luôn duy trì là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại gạo của Việt Nam, chiếm 26% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước, đạt 891.688 tấn, tương đương 474,84 triệu USD, giảm 27,6% về lượng và giảm 14,8% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, giá xuất khẩu trung bình đạt 532,5 USD/tấn, tăng 17,7%.
Gạo xuất khẩu sang Indonesia - thị trường lớn thứ 2 tăng đột biến gấp 45 lần về lượng và gấp 60 lần về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 685.908 tấn, tương đương 322,01 triệu USD, chiếm 19,7% trong tổng lượng và chiếm 18,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước, giá xuất khẩu tăng tương đối mạnh 33,7%, đạt 469,5 USD/tấn.
Thị trường Philippines - thị trường lớn thứ 3 đạt 384.146 tấn, tương đương 183,46 triệu USD, chiếm 11% trong tổng lượng và chiếm 10,4% trong tổng kim ngạch, tăng 43,5% về lượng và tăng 76,8% về kim ngạch, giá xuất khẩu đạt 477,6 USD/tấn, tăng 23,2%.
Tiếp đến thị trường Malaysia đạt 304.178 tấn, tương đương 138,22 triệu USD, chiếm 8,7% trong tổng lượng và chiếm 7,8% trong tổng kim ngạch, tăng 86% về lượng và tăng 112,7% về kim ngạch, giá xuất khẩu đạt 454,4 USD/tấn, tăng 14,3%.
Xuất khẩu gạo trong 6 tháng đầu năm nay, ngoài thị trường Indonesia có mức tăng trưởng đột biến như trên, thì còn một số thị trường đáng chú ý như: Xuất khẩu sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ mặc dù chỉ đạt 4.425 tấn, tương đương 2,54 triệu USD, nhưng so với 6 tháng đầu năm ngoái thì tăng gấp hơn 9 lần về lượng và gấp 11,4 lần về kim ngạch, giá xuất khẩu đạt mức tương đối cao 574,7 USD/tấn, tăng 23,4%.
Xuất khẩu gạo sang thị trường Pháp cũng chỉ đạt 751 tấn, tương đương 0,56 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ năm ngoái thì tăng 317% về lượng và tăng 241,9% về kim ngạch, giá xuất khẩu rất cao 743,3 USD/tấn, giảm 18,1%.
Xuất khẩu gạo sang Iraq cũng tăng tương đối tốt 120,5% về lượng và tăng 153,5% về kim ngạch, đạt 150.000 tấn, tương đương 85,56 triệu USD.
Ngược lại, xuất khẩu gạo sang thị trường Senegal sụt giảm mạnh nhất trên 99% cả về lượng và kim ngạch, đạt 47 tấn, tương đương 0,03 triệu USD. Bên cạnh đó, xuất sang Brunei cũng giảm rất mạnh 97% cả về lượng và kim ngạch, đạt 323 tấn, tương đương 0,14 triệu USD. Xuất sang Bỉ, Bangladesh, Chi Lê cũng giảm trên 90% cả về lượng và kim ngạch. 

Xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2018

Thị trường

6T/2018

% tăng giảm so với cùng kỳ

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

3.483.331

1.768.627.867

21,6

38,9

Trung Quốc

891.688

474.835.715

-27,59

-14,8

Indonesia

685.908

322.006.083

4.397,76

5.914,67

Philippines

384.146

183.462.035

43,54

76,8

Malaysia

304.178

138.221.857

86,13

112,7

Iraq

150.000

85.560.000

120,51

153,54

Ghana

148.756

89.091.597

-12,81

4,63

Bờ Biển Ngà

111.320

66.396.323

-12,87

16,35

Singapore

42.188

23.558.285

-2,99

8,75

Hồng Kông (Trung Quốc)

39.029

22.406.169

31,08

48,89

U.A.E

24.105

13.251.932

3,13

10,25

Đài Loan (Trung Quốc)

10.708

5.452.711

-21,25

-13,29

Algeria

10.325

4.590.173

-61,29

-55,91

Mỹ

9.990

6.143.604

-20,9

-7,85

Nga

6.041

2.648.683

-66,29

-61,45

Australia

4.478

3.004.895

-13,72

3,42

Thổ Nhĩ Kỳ

4.425

2.542.952

823,8

1,039,77

Bangladesh

4.043

1.598.528

-91,41

-92,11

Angola

2.394

1.191.293

-81,81

-75,93

Nam Phi

1.871

1.083.491

-56,67

-41,98

Hà Lan

1.523

837.394

-37,63

-23,26

Ba Lan

1.326

765.507

109,48

140,93

Ukraine

755

448.350

-81,68

-73,79

Pháp

751

558.224

317,22

241,93

Tây Ban Nha

474

246.068

-8,14

14,58

Brunei

323

139.352

-97,08

-96,82

Bỉ

236

141.739

-90,51

-86,1

Chile

188

145.883

-95,46

-91,06

Senegal

47

33.493

-99,65

-99,26

(Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)