Riêng tháng 2/2019 đạt 274.765 tấn, tương đương 116,62 triệu USD, giảm 37,2% về lượng và giảm 40,3% về kim ngạch so với tháng 1/2019 và cũng giảm 19,1% về lượng và giảm 31% về kim ngạch so với tháng 2/2018.
Giá xuất khẩu gạo trong tháng 2/2019 giảm 4,9% so với tháng 1/2019 và giảm 14,6% so với tháng 2/2018, đạt trung bình 424,4 USD/tấn. Tính trung bình cả 2 tháng đầu năm đạt 437,8 USD/tấn, giảm 10,8% so với cùng kỳ.
Philippines là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại gạo của Việt Nam, chiếm 44,2% trong tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước, chiếm 40,2% trong tổng kim ngạch, đạt 314.851 tấn, tương đương 125,32 triệu USD, tăng mạnh 80,9% về lượng và tăng 60,6% về kim ngạch so với 2 tháng đầu năm trước; riêng tháng 2/2019 sụt giảm mạnh 58,7% về lượng và giảm 62,5% về kim ngạch so với tháng liền kề trước đó, đạt 92.056 tấn, tương đương 34,21 triệu USD.
Gạo xuất khẩu sang thị trường Bờ biển Ngà tăng rất mạnh, đưa Bờ biển Ngà trở thành thị trường lớn thứ 2 tiêu thụ gạo của Việt Nam, với mức tăng 672,1% về lượng và tăng 508,2% về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 65.223 tấn, tương đương 30,81 triệu USD, chiếm gần 10% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước.
Xuất khẩu sang Malaysia – thị trường lớn thứ 3 sụt giảm mạnh 47,9% về lượng và giảm 43,8% về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 37.952 tấn, tương đương 17,6 triệu USD, chiếm gần 6% trong tổng lượng và tổng kim ngạch.
Gạo xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông tăng rất mạnh, với mức tăng 193,9% về lượng và tăng 149,2% về kim ngạch, đạt 35.013 tấn, tương đương 17,07 triệu USD, chiếm gần 5% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước.
Trong 2 tháng đầu năm nay, xuất khẩu gạo sang thị trường Angola nổi bật nhất, với mức tăng vượt trội gấp 18,9 lần về lượng và gấp 9,5 lần về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 1.359 tấn, tương đương 0,51 triệu USD. Bên cạnh đó, một số thị trường cũng đạt mức tăng cao như: Hà Lan tăng 334,5% về lượng và tăng 270% về kim ngạch, đạt 843 tấn, tương đương 0,42 triệu USD; Nam Phi tăng 164,7% về lượng và tăng 136,7% về kim ngạch, đạt 876 tấn, tương đương 0,47 triệu USD; Australia tăng trên 128% cả về lượng và kim ngạch, đạt 2.041 tấn, tương đương 1,35 triệu USD; Pháp tăng 113% cả về lượng và kim ngạch, đạt 98 tấn, tương đương 0,05 triệu USD.
Ngược lại, xuất khẩu gạo sụt giảm rất mạnh từ 94 – 98% cả về lượng và kim ngạch ở các thị trường sau: Indonesia, Trung Quốc, Bangladesh, Thổ Nhĩ Kỳ.

Xuất khẩu gạo 2 tháng đầu năm 2019

Thị trường

2T/2019

+/- so với cùng kỳ (%)*

Lượng(tấn)

Trị giá(USD)

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

711.759

311.593.853

-14,4

-23,64

Philippines

314.851

125.318.335

80,92

60,63

Bờ Biển Ngà

65.223

30.806.055

672,14

508,24

Malaysia

37.952

17.602.764

-47,92

-43,77

Hồng Kông (TQ)

35.013

17.072.060

193,88

149,23

Ghana

31.897

16.265.153

8,53

-12,33

Singapore

12.813

7.112.827

0,98

1,56

Trung Quốc đại lục

9.534

4.501.623

-95,14

-95,48

U.A.E

7.692

4.178.856

29,47

28,49

Indonesia

3.650

1.714.225

-97,85

-97,88

Australia

2.041

1.345.840

128,3

128,41

Algeria

1.850

774.936

68,18

69,76

Mỹ

1.560

1.050.862

-52,9

-44,66

Angola

1.359

509.969

1.787,50

854,21

Brunei

1.323

558.410

 

 

Nam Phi

876

466.159

164,65

136,68

Hà Lan

843

417.227

334,54

269,97

Nga

825

432.733

-54,92

-46,75

Đài Loan(TQ)

683

329.488

-61,26

-63,98

Ba Lan

674

355.459

 

 

Senegal

356

170.070

 

 

Ukraine

226

139.452

-26,62

-9,71

Bangladesh

126

76.150

-96,77

-94,91

Thổ Nhĩ Kỳ

125

68.171

-94,12

-94,39

Tây Ban Nha

100

45.562

0

-8,07

Pháp

98

51.460

113,04

113,08

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)