Riêng tháng 7/2019 đạt 864,22 triệu USD, tăng 7,3% so với tháng 6/2019 và tăng 18,4% so với tháng 7/2018; Trong 7 tháng đầu năm nay, riêng nhóm sản phẩm gỗ chiếm 70,9% trong tổng kim ngạch, đạt trên 4,03 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm 2018.
Trong nửa đầu tháng 8/2019 xuất khẩu nhóm hàng này đạt 423,3 triệu USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó, riêng sản phẩm gỗ đạt 303,4 triệu USD, tăng 21,8%. Lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 15/8/2019 tổng kim ngạch đạt 6,1 tỷ USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2018, riêng sản phẩm gỗ đạt 4,3 tỉ USD, tăng hơn 19%.
Mỹ là thị trường tiêu thụ nhiều nhất gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam chiếm 47,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 2,7 tỷ USD, tăng mạnh 33,2% so với cùng kỳ năm 2018; riêng tháng 7/2019 xuất khẩu đạt 453,46 triệu USD, tăng 10,5% so với tháng 6/2019 và tăng 36,4% so với tháng 7/2018.
Nhật Bản đứng thứ 2 thị trường, với 735,72 triệu USD, chiếm 12,9%, tăng 18,6%; riêng tháng 7/2019 xuất khẩu sang thị trường này đạt 102,95 triệu USD, giảm 4,2% so với tháng 6/2019 nhưng tăng 9% so với tháng 7/2018.
Đứng sau 2 thị trường chủ đạo Mỹ, Nhật là một số thị trường cũng đạt kim ngạch cao trên 100 triệu USD như: Trung Quốc đạt 641,89 triệu USD, chiếm 11,3%, tăng 1,8%; EU đạt 488,12 triệu USD, chiếm 8,6%, tăng 10,9%; Hàn Quốc đạt 480,46 triệu USD, chiếm 8,4%, giảm 12,2%; Anh đạt 187,24 triệu USD, chiếm 3,3%, tăng 13,8%; thị trường Đông Nan Á đạt 119,68 triệu USD, chiếm 2,1%, tăng 16,4%.
Xét về mức tăng trưởng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong 7 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm 2018 thì thấy phần lớn các thị trường tăng kim ngạch, trong đó, xuất khẩu tăng mạnh ở các thị trường như: Áo tăng 77,3%, đạt 0,95 triệu USD, Saudi Arabia tăng 47%, đạt 23,38 triệu USD; Hy Lạp tăng 38,6%, đạt 3,1 triệu USD; Singapore tăng 34,5%, đạt 17,44 triệu USD.
Ngược lại, xuất khẩu giảm mạnh ở các thị trường như: Thổ Nhĩ Kỳ giảm 80,3%, đạt 1,76 triệu USD; Hồng Kông giảm 54,2%, đạt 2,39 triệu USD; Phần Lan giảm 40,3%, đạt 0,73 triệu USD; Campuchia giảm 38,7%, đạt 4,66 triệu USD.
Đối với thị trường Đức, xuất khẩu nhóm hàng này mới đạt 67,14 triệu USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước, thị phần đồ gỗ nội thất Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Đức vẫn ở mức thấp, do đó đây vẫn là thị trường còn nhiều tiềm năng. Đặc biệt Hiệp định EVFTA có hiệu lực sẽ tạo cơ hội cho ngành gỗ và sản phẩm gỗ khi xuất khẩu sang thị trường Đức nói riêng và EU nói chung.
Theo cam kết trong Hiệp định EVFTA, EU sẽ ngay lập tức xóa bỏ khoảng 83% số dòng thuế đối với ngành gỗ và sản phẩm gỗ, khoảng 17% còn lại gồm ván dăm, ván sợi và gỗ dán,… sẽ được xóa bỏ thuế quan theo lộ trình từ 3 đến 5 năm.
Ở chiều ngược lại, số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan cho biết nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong 15 ngày đầu tháng 8 đạt hơn 108 triệu USD, giảm hơn 46% so với cùng kỳ năm 2018. Lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 15/8/2019 nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,56 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm ngoái.

Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 7 tháng đầu năm 2019

Thị trường

Tháng 7/2019

+/- so với tháng 6/2019 (%)

7 tháng đầu năm 2019

+/- so vớicùng kỳ năm 2018(%)

Tổng kim ngạch XK

864.223.270

7,26

5.686.883.310

17,13

Riêng sản phẩm gỗ

634.510.579

9,26

4.034.152.472

19,42

Mỹ

453.457.539

10,49

2.701.985.531

33,23

Nhật Bản

102.951.884

-4,22

735.724.337

18,63

Trung Quốc đại lục

98.297.230

28,88

641.888.922

1,8

Hàn Quốc

65.224.902

-4,44

480.463.815

-12,23

Anh

26.855.748

5,17

187.240.474

13,83

Canada

15.430.767

-1,51

95.984.516

6,68

Australia

12.267.534

3,6

79.753.297

-21,08

Pháp

9.181.940

3,42

72.454.825

0,03

Đức

4.646.969

0,59

67.138.733

14,49

Đài Loan (TQ)

7.086.288

-1,6

47.560.831

27,93

Hà Lan

4.339.655

-4,29

46.748.137

4,92

Malaysia

5.984.034

8,98

41.636.400

-32,4

Lào

5.620.895

13,94

35.235.296

 

Bỉ

2.950.202

-1,53

24.086.164

14,85

Saudi Arabia

3.382.996

28,05

23.384.941

47

Ấn Độ

3.299.401

15,47

20.889.519

-34,55

Thái Lan

3.611.418

22,29

20.710.226

0,35

Tây Ban Nha

1.785.212

-6,44

19.551.710

6,78

Italy

974.637

-0,94

18.051.991

11,91

Singapore

3.371.211

141,35

17.443.678

34,46

Thụy Điển

1.019.320

-3,83

16.386.091

13,99

Đan Mạch

1.898.937

-4,58

16.274.114

15,64

U.A.E

1.928.340

19,12

14.720.496

5,1

New Zealand

2.524.426

35,33

12.281.604

-11,25

Ba Lan

806.667

53,65

12.078.520

24,5

Chile

2.379.100

28,96

10.101.281

 

Mexico

2.068.090

69,9

9.904.618

29,54

Nam Phi

875.783

-6,07

5.894.455

0,56

Campuchia

854.852

-10,89

4.657.941

-38,69

Kuwait

593.891

-41,97

4.450.575

20,64

Nga

332.484

28,24

3.245.759

13,65

Hy Lạp

117.393

30,24

3.096.237

38,61

Hồng Kông (TQ)

379.420

25,59

2.392.646

-54,19

Na Uy

198.741

-13,19

2.379.697

7,41

Bồ Đào Nha

56.824

-15,49

2.047.385

14,86

Thổ Nhĩ Kỳ

246.048

54,34

1.757.916

-80,33

Séc

205.620

14,25

1.286.670

11,8

Thụy Sỹ

 

-100

961.314

-30,9

Áo

72.446

4,58

948.556

77,25

Phần Lan

133.812

51,89

726.193

-40,34

(*Tính toán theo số lieeujc ủa TCHQ)