Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu rau quả sau khi tăng mạnh liên tiếp trong tháng 3 tăng 57,4%, tháng 4/2019 tăng 28%, thì sang tháng 5/2019 kim ngạch xuất khẩu giảm trở lại 23,1% so với tháng 4/2019, đạt 358,69 triệu USD.
Tính chung trong 5 tháng đầu năm 2019 kim ngạch xuất khẩu rau quả của cả nước đạt 1,76 tỷ USD, tăng 5,9% so với 5 tháng đầu năm 2018.
Rau quả của Việt Nam xuất khẩu tới 72,6% sang thị trường Trung Quốc, với 1,28 tỷ USD, tăng nhẹ 3% so với cùng kỳ năm 2018; riêng tháng 5/2019 xuất sang thị trường này sụt giảm mạnh 32,7% so với tháng 4/2019 và giảm 4% so với tháng 5/2018.
Đứng sau thị trường chủ đạo Trung Quốc là thị trường EU đạt 60,16 triệu USD, chiếm 3,4%, tăng mạnh 39,7%; riêng tháng 5/2019 xuất sang EU tăng mạnh 30,9% so với tháng 4/2019 và tăng 37,6% so với cùng tháng năm 2018.
Tiếp sau đó là thị trường các nước Đông Nam Á tháng 5/2019 đạt 12,53 triệu USD, tăng 1,5% so với tháng 4/2019 và tăng 10,5% so với tháng 5/2018; nâng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này 5 tháng đầu năm 2019 lên 59,08 triệu USD, giảm 13,5% so với cùng kỳ.
Xuất khẩu sang thị trường Mỹ tăng 14,8%, đạt 58,46 triệu USD, chiếm 3,3%; xuất sang Hàn Quốc cũng tăng 18,8%, đạt 55,29 triệu USD, chiếm 3,1%.
Xuất khẩu rau quả sang phần lớn các thị trường trong 5 tháng đầu năm nay tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018, trong đó các thị trường tăng mạnh trên 100% về kim ngạch như: Indonesia tăng 304,4%, đạt 1,09 triệu USD; Italia tăng 257,9%, đạt 5,57 triệu USD; Lào tăng 185,3%, đạt 10,24 triệu USD.
Ngược lại, rau quả xuất khẩu sụt giảm mạnh ở một số thị trường như: Campuchia giảm 45,5%, đạt 0,96 triệu USD; Nga giảm 24,9%, đạt 11 triệu USD; Malaysia giảm 43%, đạt 13,46 triệu USD.
Một số lưu ý khi xuất khẩu trái cây sang Trung Quốc
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu trái cây lớn nhất của Việt Nam trong những năm qua, đến nay đã có 8 loại trái cây tươi của Việt Nam được phép xuất khẩu chính ngạch vào Trung Quốc, bao gồm thanh long, dưa hấu, vải, nhãn, chuối, xoài, mít và chôm chôm. Hiện Việt Nam đang đàm phán với Trung Quốc đưa thêm một số trái cây như sầu riêng, bưởi, na, roi, dừa, chanh leo... trong thời gian tới.
Thực tế cho thấy rau quả Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu theo đường tiểu ngạch, rất bấp bênh. Thời gian gần đây, Trung Quốc đã siết chặt đường biên mậu, việc xuất khẩu tiểu ngạch rất khó khăn. Đổi lại, phía bạn đang mở rộng cửa, tạo điều kiện cho Việt Nam xuất khẩu nông sản đi theo đường chính ngạch khi giảm thuế từ 17% trước đây còn 3% - 4%. Tuy nhiên, để nhập khẩu theo đường chính ngạch thì mặt hàng trái cây Việt Nam đều phải đăng ký thông tin nhà vườn, nhà xưởng, bao bì gửi cho Hải quan Trung Quốc.
Các nhà xuất khẩu trái cây Việt Nam sang Trung Quốc cũng cần chú ý ba điểm trong việc quản lý truy xuất nguồn gốc của Hải quan nước này. Thứ nhất, dưa hấu Việt Nam xuất sang Trung Quốc có thể sử dụng cách dán tem có mã truy xuất nguồn gốc lên trái dưa hoặc đóng dưa bằng bao bì thùng giấy có thông tin truy xuất nguồn gốc.
Thứ hai, doanh nghiệp xuất khẩu chủ động lựa chọn sử dụng bao bì thùng giấy hoặc tem nhãn dán lên trái cây; chủ động chọn đơn vị in tem nhãn truy xuất nguồn gốc. Hiện đã có 41 doanh nghiệp xuất khẩu ký hợp đồng với Tập đoàn Trung Kiểm (CCIC) là đơn vị có năng lực cung cấp lượng lớn tem nhãn cho doanh nghiệp.
Điểm thứ ba là từ 1/5/2019, Hải quan Trung Quốc sẽ thực hiện thêm một số quy định mới đối với một số loại trái cây nhập khẩu từ Việt Nam. Cụ thể, đối với dưa hấu: không cho phép dưa hấu lót rơm thông quan; yêu cầu dùng xốp lưới hoặc chất liệu không có sinh vật gây hại để bọc trái; đối với mít: yêu cầu dùng giấy dai Kraft để bọc hoặc dùng bao bì là thùng giấy có in thông tin truy xuất nguồn gốc; đối với chuối: yêu cầu bao bì là thùng giấy hoặc túi nhựa để bọc (đều phải in mã và thông tin truy xuất nguồn gốc); đối với vải thiều: phải đóng gói trong thùng xốp có in tem chìm.
Trong việc xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc, đang tồn tại một số vấn đề như hiện tượng làm giả chứng nhận, mở đơn hàng, tờ khai giả; vi phạm tiêu chuẩn chất lượng hàng nông sản. Riêng về việc vi phạm tiêu chuẩn chất lượng, trong năm 2018, Nam Ninh (Quảng Tây, Trung Quốc) nhập khẩu 1,53 triệu tấn trái cây Việt Nam, trong đó phát hiện 140 lô (chủ yếu là nhãn, chuối, chôm chôm) có sinh vật gây hại, không đạt tiêu chuẩn. Cũng trong năm vừa qua, Nam Ninh nhập khẩu 1,19 triệu tấn tinh bột sắn Việt Nam, phát hiện 3 lô không đạt tiêu chuẩn do có hàm lượng chì vượt mức cho phép.
Ngoài ra, phía Trung Quốc còn phát hiện hàng nước thứ ba mượn xuất xứ Việt Nam để vào Trung Quốc. Cụ thể, cơ quan chức năng Trung Quốc phát hiện ớt nhập khẩu Việt Nam nghi là ớt Ấn Độ (do có kích thước, đặc điểm khác với ớt Việt Nam), trong khi Ấn Độ chưa được phê chuẩn xuất khẩu ớt vào Trung Quốc.

Xuất khẩu rau quả 5 tháng đầu năm 2019

ĐVT: USD

Thị trường

T5/2019

+/- so với tháng 4/2019 (%)*

5T/2019

+/- so với cùng kỳ năm trước (%)*

Tổng kim ngạch XK

358.694.680

-23,13

1.762.114.026

5,89

Trung Quốc đại lục

245.041.953

-32,69

1.278.837.510

2,98

Mỹ

12.896.279

-6,51

58.460.713

14,8

Hàn Quốc

11.715.378

-5,21

55.292.981

18,81

Nhật Bản

13.421.500

61,47

49.956.306

6,95

Hà Lan

9.320.434

79,16

31.162.039

35,82

Thái Lan

3.585.350

-19,26

20.384.745

-21,93

Đài Loan (TQ)

5.501.192

53,51

16.838.068

21,52

Australia

3.415.763

11,95

15.994.700

39,77

U.A.E

2.503.481

-7,98

15.662.517

-13,11

Malaysia

2.223.142

-21,13

13.458.454

-43,02

Singapore

2.788.593

12,31

12.944.847

0,18

Hồng Kông (TQ)

5.333.177

167,42

12.822.743

51,61

Pháp

2.194.751

-25,56

12.270.565

20,6

Nga

2.780.895

-25,24

11.001.888

-24,94

Lào

3.544.217

59,16

10.243.213

185,32

Canada

1.652.597

-29,5

9.050.245

2,4

Đức

1.743.183

18,07

7.979.935

29,33

Ai Cập

272.990

-62,01

6.466.022

 

Saudi Arbia

926.966

-37,71

6.135.240

 

Italia

1.043.439

-4,06

5.571.175

257,89

Anh

790.754

-2,89

3.180.332

43,56

Thụy Sỹ

413.007

-29,08

2.293.761

 

Kuwait

85.741

-87,93

1.661.350

63,63

Na Uy

300.936

31,43

1.166.455

 

Indonesia

80.723

-56,51

1.086.154

304,35

Campuchia

307.243

61,24

961.103

-45,54

Ukraine

41.445

10,23

445.615

32,12

Senegal

122.302

205,02

373.973

 

(*Tính toàn theo số liệu của TCHQ)