Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong tháng 2/2018 sụt giảm rất mạnh 43,5% so với tháng đầu năm, đạt 437,19 triệu USD.

Tính chung, tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 2 tháng đầu năm 2018 đạt 1,21 tỷ USD, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó, riêng sản phẩm gỗ xuất khẩu đạt 849,95 triệu USD, chiếm 70,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này, tăng 11% so với cùng kỳ.

Trong 2 tháng đầu năm nay có 5 thị trường tiêu thụ nhiều nhất gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam, với kim ngạch trên 100 triệu USD đó là: Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU.

Trong đó, xuất sang Mỹ đạt 474,49 triệu USD, chiếm 39,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, tăng 14,7% so với cùng kỳ.

Xuất sang Trung Quốc 170,14 triệu USD, chiếm 14%, tăng 4,7%; xuất sang thị trường Nhật Bản 169,51 triệu USD, chiếm 14%, tăng 14%; Hàn Quốc 124,42 triệu USD, chiếm 10,3%, tăng 33%; EU 140,29 triệu USD, chiếm 11,6%, tăng 2,9%.

Nhìn chung, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong 2 tháng đầu năm nay sang hầu khắp các thị trường đều tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó, xuất khẩu sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ tăng mạnh nhất 332%, đạt 2,91 triệu USD. Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tăng mạnh ở một số thị trường như: Phần Lan tăng 291,5%, đạt 0,46 triệu USD; Thụy Sĩ tăng 279%, đạt 0,7 triệu USD; Séc tăng 243%, đạt 0,63 triệu USD; Malaysia tăng 76,4%, đạt 10,33 triệu USD.

Ngược lại, xuất khẩu giảm mạnh ở một số thị trường: Hồng Kông giảm 62%, đạt 0,96 triệu USD; Áo giảm 52,3%, đạt 0,12 triệu USD; Cô Oét giảm 41%, đạt 0,72 triệu USD.

Ngành gỗ đặt mục tiêu XK đồ gỗ và lâm sản trong năm 2018 đạt 9 tỷ USD. Để đạt mục tiêu này cũng như các năm tiếp theo, ngành lâm nghiệp đã đề ra nhiều nhóm giải pháp.

Thứ nhất là nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách: Sẽ hoàn thiện xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật (4 Nghị định, 7 Thông tư) hướng dẫn Luật Lâm nghiệp năm 2017; đồng thời sẽ kiến nghị Bộ NN&PTTN và các ngành sửa đổi một số cơ chế, chính sách.

Nhóm giải pháp thứ hai là phát triển nguồn nguyên liệu. Để đạt kim ngạch XK đồ gỗ và lâm sản 9 tỷ USD cần khoảng 34 triệu m3 gỗ nguyên liệu gồm: Gỗ khai thác rừng trồng tập trung khoảng 18-19 triệu m3, gỗ nhập khẩu khoảng 9 triệu m3, còn lại là gỗ cao su và gỗ rừng trồng phân tán 6 triệu m3.

Bên cạnh việc NK gỗ nguyên liệu có nguồn gốc hợp pháp, Tổng cục Lâm nghiệp xác định sẽ thúc đẩy, khuyến khích thực hiện quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững, từng bước cung cấp gỗ nguyên liệu có chứng chỉ cho hoạt động sản xuất, chế biến sản phẩm gỗ cho XK.

Nhóm giải pháp thứ ba là về chống gian lận thương mại. Hiện chính sách thuế của chúng ta rất thông thoáng với các mức áp dụng cho NK gỗ nguyên liệu là 0%, XK gỗ thô, gỗ xẻ là 5-25%. Tuy vậy, một số DN làm ăn không chân chính đã hạ giá XK một số mặt hàng gỗ tròn, gỗ xẻ để nộp thuế ít đi. Tổng cục Lâm nghiệp đề nghị thực hiện việc chống gian lận giá XK theo quy định tại Nghị định số 10/2018 ngày 15/1/2018 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương.

Giữ vững và phát triển các thị trường truyền thống XK đồ gỗ như: Hoa Kỳ, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc.

Nhóm giải pháp thứ tư được triển khai là tăng cường truyền thông, thông tin cơ chế chính sách của các nước để DN biết thực hiện, đồng thời tăng cường hỗ trợ DN quảng bá sản phẩm.

Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 2 tháng đầu năm 2018

ĐVT: USD

Thị trường

T2/2018

(+/-%)T2/2018 so với T1/2018

2T/2018

(+/-%) 2T/2018 so với cùng kỳ

Tổng kim ngạch XK

437.186.586

-43,51

1.210.253.425

13,16

Mỹ

157.338.939

-50,41

474.489.311

14,65

Trung Quốc

66.593.495

-36,06

170.140.312

4,73

Nhật Bản

67.001.593

-34,44

169.510.553

15,39

Hàn Quốc

46.275.864

-40,85

124.420.119

33,13

Anh

17.247.021

-39,8

45.891.908

6

Canada

8.004.348

-49,39

23.802.783

9,82

Australia

8.935.475

-39,13

23.562.358

8,33

Pháp

7.828.779

-48,23

22.880.739

29,33

Đức

9.098.263

-27,68

21.548.236

-16,92

Hà Lan

6.693.338

-33,11

16.677.393

11,26

Malaysia

3.263.047

-53,89

10.332.901

76,38

Ấn Độ

3.891.125

-8,63

8.149.802

1,8

Đài Loan

2.365.320

-56,48

7.799.283

-12,9

Tây Ban Nha

2.432.889

-30,79

5.948.259

-0,42

Italia

2.221.470

-36,55

5.722.414

-18,41

Thụy Điển

2.377.169

-28,86

5.718.739

-17,82

Bỉ

1.799.897

-53,46

5.667.107

13,55

Thái Lan

1.410.128

-61,91

5.112.262

68,34

Ả Rập Xê Út

1.331.134

-49,53

3.968.409

69,65

Đan Mạch

1.468.338

-37,7

3.827.422

3,58

Ba Lan

1.277.123

-45,05

3.601.175

12,55

U.A.E

1.262.795

-42,62

3.464.204

3,85

New Zealand

1.133.586

-46,34

3.246.162

25,34

Singapore

968.077

-56,73

3.205.362

28,31

Thổ Nhĩ Kỳ

1.026.647

-45,39

2.906.623

331,95

Mexico

556.567

-30,83

1.361.198

-4,4

Nam Phi

252.230

-75,95

1.300.836

29,29

Campuchia

208.810

-77,97

1.156.474

13,19

Hy Lạp

419.983

-38,47

1.102.593

-20,26

Hồng Kông

433.680

-17,32

958.233

-61,99

Nga

339.168

-36,56

873.808

-12,33

Na Uy

280.012

-49,57

835.222

23,77

Cô Oét

211.522

-58,75

724.345

-41,1

Thụy Sỹ

389.005

18,31

703.647

279,05

Séc

305.264

-6,28

630.989

242,98

Bồ Đào Nha

95.902

-75,92

494.166

-28,44

Phần Lan

153.935

-49,09

456.352

291,54

Áo

64.616

16,03

120.274

-52,28

(Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)