Nhật Bản luôn đứng đầu về tiêu thụ thủy sản của Việt Nam chiếm 17% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước, đạt 411,2 triệu USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2018. Tiếp theo đó là thị trường Mỹ chiếm 15,9%, đạt 385,53 triệu USD, tăng 1,9%; EU chiếm 15,6%, đạt 378,32 triệu USD, giảm 10,6%; Trung Quốc, chiếm 11%, đạt 267,57 triệu USD, giảm 8,2%; Hàn Quốc chiếm 9,8%, đạt 237,26 triệu USD, giảm 2,3%; Đông Nam Á chiếm 8,6%, đạt 207,32 triệu USD, tăng 6,1%.
Nhìn chung, xuất khẩu thủy sản 4 tháng đầu năm nay sang đa số các thị trường sụt giảm kim ngạch so với cùng kỳ năm trước; trong đó giảm mạnh ở các thị trường sau: Saudi Arabia giảm 98,7%, chỉ đạt 0,17 triệu USD; Pakistan giảm 80%, đạt 2,31 triệu USD; Séc giảm 42,7%, đạt 1,24 triệu USD; Colombia giảm 32,5%, đạt 15,36 triệu USD.
Tuy nhiên, có một số thị trường vẫn tăng trưởng tó như: Ukraine tăng 116,5%, đạt 7,11 triệu USD; Iraq tăng 26%, đạt 3,7 triệu USD; Mexico tăng 31,5%, đạt 46,9 triệu USD.
Riêng đối với mặt hàng cá tra xuất khẩu trong tháng 4/2019 ước đạt 136,54 triệu USD, giảm 15,3% so với tháng 4/2018 nhưng cộng dồn 4 tháng ước đạt 609 triệu USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ 2018. Đứng đầu top 10 thị trường nhập khẩu cá tra Việt Nam vẫn là Trung Quốc, ước đạt 136,9 triệu USD, giảm 3,9% so với cùng kỳ 2018; thị trường EU đứng thứ hai đạt 95 triệu USD, tăng 39,7%; Hoa Kỳ đứng thứ 3 với 87,15 triệu USD, giảm 13,8%.
Điều đáng quan tâm là từ trước đến nay Nhật Bản chưa lần nào lọt vào top 10 thị trường nhập khẩu lớn cá tra Việt Nam, lần này Nhật Bản được xếp ở vị trí thứ 8 trong top 10 với giá trị xuất khẩu cá tra ước đạt 11,54 triệu USD, tăng 61,5% so với cùng kỳ 2018. Con số này còn cao hơn giá trị xuất khẩu sang các thị trường được đánh giá cao và tiềm năng là UAE, Ai Cập, Đức hay Bỉ. Đây là một kết quả gây chú ý tại các thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam, bởi trước đây người tiêu dùng Nhật Bản không "sẵn lòng" với thủy sản nuôi mà chỉ thích nhập hải sản từ biển. Sự thay đổi này cho thấy cá tra Việt Nam đang dần khám phá những "bí mật" về thị hiếu tiêu thụ tại thị trường khó tính này.
Năm 2011, giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường Nhật Bản chỉ đạt 2,56 triệu USD, chiếm 0,14% tổng giá trị xuất khẩu cá tra. Đây là một con số rất khiêm tốn trong tỷ trọng xuất khẩu cá tra của Việt Nam. Tuy nhiên, sau 7-8 năm sau (2017-2018), giá trị xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đã tăng lần lượt 9 lần và 12 lần so với năm 2011.
Năm 2008, khi Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) được ký kết ngày 25/12 và có hiệu lực từ 1/10/2009. Đây là hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương đầu tiên của Việt Nam, trong đó hai nước đã dành nhiều ưu đãi cho nhau hơn so với FTA ASEAN - Nhật Bản. Về cam kết chung, trong vòng 10 năm kể từ khi thực hiện hiệp định, Việt Nam cam kết tự do hoá với khoảng 87,66% kim ngạch thương mại và Nhật Bản cam kết tự do hoá đối với 94,53% kim ngạch thương mại. Cũng trong thời gian này, thương mại cá tra Việt Nam - Nhật Bản hầu như chưa có gì nổi bật. Tuy nhiên, kể từ tháng 4/2019, theo biểu thuế EPA của hải quan Nhật Bản, sản phẩm cá da trơn phile tươi, ướp lạnh (trong đó có cá tra) nhập khẩu vào thị trường này từ Thái Lan, Mexico, Chile, Philippines được miễn thuế nhập khẩu, từ ASEAN áp mức thuế 3,5%, còn từ thị trường các nước CPTPP được miễn thuế.
Riêng sản phẩm xuất khẩu cá tra phile đông lạnh chủ lực của Việt Nam được miễn thuế hoàn toàn nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản. Với hai FTA trước là Việt Nam - Nhật Bản và ASEAN - Nhật Bản, một số mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản đã được xóa bỏ rào cản thuế quan.
Với Hiệp định CPTPP, một số mặt hàng thủy sản sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực, bao gồm sản phẩm cá tra được miễn thuế ngay lập tức, từ mức 3,5-10,5% hiện tại. Như vậy, với thuận lợi từ 3 FTA với Nhật Bản, doanh nghiệp xuất khẩu cá tra có thêm nhiều cơ hội để gia tăng hơn nữa hoạt động cá tra sang thị trường Nhật Bản.
Do thị hiếu của người Nhật là sợ mùi tanh nồng của sản phẩm cá nước ngọt và những định kiến chưa đúng về so sánh tương quan chất lượng giữa cá nuôi nước ngọt và cá nuôi hoặc khai thác từ biển nên trong quá khứ, người Nhật ít khi "mở lòng" với sản phẩm cá nước ngọt nhập khẩu.
Tuy nhiên, có nhiều doanh nghiệp cá tra đã bắt đầu "quen" và "hiểu" được thị hiếu tiêu dùng thủy sản của người Nhật. Bằng những con số thống kê về mức tăng trưởng lạc quan xuất khẩu cá tra sang thị trường Nhật Bản, Vasep cho rằng còn nhiều tiềm năng hơn nữa cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra muốn chinh phục và khai thác thị trường này sau khi Nhật Bản chính thức bước vào top 10 thị trường xuất khẩu cá tra lớn nhất của Việt Nam.

Xuất khẩu thủy sản 4 tháng đầu năm 2019

ĐVT: USD

Thị trường

T4/2019

+/-so tháng 3/2019 (%)*

+/-so tháng 4/2018 (%)*

4T/2019

+/-so với cùng kỳ năm trước (%)*

Tổng cộng

634.035.065

-7,25

-7,34

2.423.162.014

-0,94

Nhật Bản

104.666.309

-17,41

-7,21

411.195.807

9,26

Mỹ

102.640.109

-2,19

-4,41

385.534.826

1,91

EU

108.113.362

-1,15

-9,58

378.317.626

-10,57

Trung Quốc

73.326.481

-3,13

-18,1

267.568.360

-8,18

Hàn Quốc

64.101.625

-3,58

-0,21

237.258.372

-2,31

Đông Nam Á

45.117.741

-26,32

-12,95

207.319.977

6,12

Thái Lan

15.744.558

-40,68

-24,13

86.483.804

2,87

Anh

19.593.457

2,83

-10,05

76.519.557

-2,69

Hà Lan

18.778.391

-11,94

-32,05

70.200.712

-25,88

Canada

16.070.636

-10,34

6,03

64.105.803

9,89

Australia

16.555.490

0,06

14,38

59.653.616

5,02

Đức

17.726.161

18,59

9,51

58.045.894

-5,16

Hồng Kông (TQ)

12.704.942

-6,55

-7,33

52.650.362

-5,01

Mexico

8.674.644

-11,97

15,22

46.903.547

31,45

Malaysia

10.145.813

-30,5

-1,22

42.388.832

22,89

Bỉ

10.387.995

-12,59

-29,1

38.062.638

-18,85

Philippines

8.191.214

-18,89

-16,75

36.870.276

17,76

Đài Loan (TQ)

10.271.799

4,68

3,46

35.785.681

18,65

Nga

11.286.007

32,83

25,98

32.914.850

17,74

Italia

11.026.267

-1,06

-3,79

32.286.137

-19,47

Singapore

7.947.605

7,93

-7,59

32.175.533

-8,38

Pháp

10.149.828

18,77

20,42

31.480.052

-1,74

Tây Ban Nha

6.573.976

-14,66

11,41

24.193.369

21,41

Israel

5.592.043

-10,41

-20,26

23.467.796

-14,55

Brazil

4.023.923

1,43

-29,62

23.452.584

-19,38

U.A.E

5.804.224

-10,75

-31,81

18.959.404

-17,11

Bồ Đào Nha

5.713.607

19,76

1,23

16.160.508

-13,31

Colombia

4.089.939

25,08

-19,67

15.364.193

-32,54

Ai Cập

3.921.041

-4,16

-24,47

14.442.266

21,55

Đan Mạch

3.267.983

-3,52

22,63

12.399.877

14,1

Ấn Độ

2.380.669

9,65

14,33

8.838.745

-7,03

Thụy Sỹ

2.746.010

18,47

19,34

8.604.278

-5,81

Campuchia

1.924.622

-12,85

1,72

7.503.304

-11,02

Ba Lan

1.899.704

-0,45

40,13

7.149.119

8,88

Ukraine

2.695.064

95,74

121,86

7.110.034

116,47

New Zealand

1.495.821

-20,97

19,75

6.570.355

7,8

Chile

1.936.645

48,72

 

5.659.393

 

Thụy Điển

1.600.374

-12,19

-14,72

4.668.918

-22,01

Iraq

1.107.803

-8,91

-0,67

3.698.847

25,97

Hy Lạp

611.199

-57,03

-22,04

3.414.713

7,55

Thổ Nhĩ Kỳ

991.615

28,91

-4,39

3.328.485

13,64

Pê Ru

978.065

72,2

 

3.107.563

 

Algeria

1.004.545

-43,57

 

3.103.619

 

Kuwait

776.203

-12,34

-6,42

2.640.031

-11,73

Romania

605.826

-29,11

-7,24

2.496.302

16,52

Pakistan

217.883

-49,82

-83,63

2.306.663

-80,05

Panama

406.300

-22,05

 

2.205.660

 

Sri Lanka

324.161

-41,42

 

2.109.781

 

Na Uy

339.435

-53,02

 

2.077.052

 

Séc

178.594

-70,19

-67,56

1.239.830

-42,74

Indonesia

963.500

347,38

150,68

1.229.443

-9,2

Brunei

200.429

-4,39

121,02

668.785

14,91

Senegal

 

-100

 

446.384

 

Angola

62.500

-15,46

 

388.430

 

Saudi Arabia

 

 

-100

172.650

-98,74

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)