(Vinanet) Mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện mới tham gia vào danh sách các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong mấy năm gần đây, nhưng đến nay đã đạt kim ngạch lớn nhất trong các mặt xuất khẩu của Việt Nam.

Xuất khẩu điện thoại đạt kim ngạch tương đối lớn bắt đầu từ năm 2010 với giá trị đạt 2.397 triệu USD, đưa mặt hàng này tham gia “câu lạc bộ” các mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch từ 2 tỷ USD trở lên. Năm 2011, điện thoại xuất khẩu đã nhanh chóng vượt lên đạt 6.886 triệu USD, cao gấp 3 lần năm 2010. Năm 2012 vượt qua dầu thô lên đứng thứ 2 với kim ngạch đạt 12.717 tỷ USD, cao gấp gần 2 lần năm 2011.

Bốn tháng đầu năm 2013, kim ngạch xuất khẩu điện thoại đã đạt 5,97 triệu USD, vượt qua dệt may lên đứng thứ nhất trong các mặt hàng xuất khẩu, tăng tới 97,26% so với cùng kỳ năm trước. Năm 2012 so với năm 2000 đã cao gấp 5,3 lần, bình quân 1 năm tăng 130% - tốc độ tăng cao nhất trong các mặt hàng và cao hơn nhiều so với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (tương ứng là 1,6 lần và tăng 26,5%).

Trong số các nước và vùng lãnh thổ tiêu thụ điện thoại sản xuất tại Việt Nam, thị trường U.A.E đạt kim ngạch lớn nhất tới 1,02 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm, chiếm 17,1% trong tổng kim ngạch; tiếp đến thị trường Đức 584,51 triệu USD, chiếm 9,8%; Áo 442,91 triệu USD, chiếm 7,42%, Ấn Độ 385,51 triệu USD, chiếm 6,46%; Anh 348,16 triệu USD, chiếm 5,84%; bên cạnh đó là rất nhiều các thị trường đạt kim ngạch từ 100 – 300 triệu USD như: Nga, Thái Lan, Italia, Hồng Kông, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha, Malaysia, Indonesia, Đài Loan, Thụy Điển, Nam Phi, Australia.

Kim ngạch xuất khẩu sang hầu hết các thị trường đều tăng trưởng dương so với cùng kỳ; trong đó có một số thị trường tăng trưởng mạnh trên 100%; đứng đầu về mức tăng trưởng là xuất khẩu sang Braxin tăng 809,47%, tiếp đến Trung Quốc (+353,39%); U.A.E (+287,4%); Ấn Độ (+282,04%); Nam Phi (+213,53%); Áo (+167,78%); Thái Lan (+163,35%); Hà Lan (+122,98%); Indonesia (+105,47%);

Thị trường tiêu thụ điện thoại và linh kiện của Việt Nam 4 tháng đầu năm 2013

ĐVT: USD

 

 

Thị trường

 

 

T4/2013

 

 

4T/2013

% tăng, giảm KN T4/2013 so với T4/2012

% tăng, giảm KN 4T/2013 so với cùng kỳ

Tổng cộng

1.548.168.083

5.965.752.766

+132,72

+97,26

Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất

204.611.613

1.020.012.378

+207,39

+287,40

Đức

187.229.496

584.505.164

+188,43

+74,17

Áo

77.818.880

442.909.206

+35,17

+167,78

Ấn Độ

148.209.742

385.504.091

+955,68

+282,04

Anh

69.479.397

348.155.520

+17,70

+77,56

Nga

76.840.891

274.410.957

+120,18

+69,31

Thái Lan

49.857.006

243.732.816

+147,16

+163,35

Italia

62.492.759

234.784.935

+107,84

+67,93

Hồng Kông

63.292.419

221.207.862

+7,72

+31,54

Pháp

29.723.593

214.709.400

-20,05

+25,45

Hà Lan

52.273.170

184.057.121

+186,96

+122,98

Malaysia

46.504.612

179.390.715

+143,01

+73,09

Tây Ban Nha

29.046.660

170.246.318

-0,12

+18,28

Indonesia

40.568.626

155.583.593

+89,40

+105,47

Đài Loan

61.568.922

141.996.599

+916,67

+73,44

Thuỵ Điển

66.653.706

130.372.836

+404,17

+60,27

Nam Phi

31.874.627

111.466.092

+177,26

+213,53

Australia

35.750.007

110.901.386

+29,53

+37,60

Trung quốc

24.660.748

99.344.817

+419,24

+353,39

Singapore

27.307.450

92.941.291

+204,78

+55,89

Hoa Kỳ

30.046.964

85.128.345

+121,77

+70,43

Thổ Nhĩ Kỳ

8.782.654

73.528.207

-43,32

+54,86

Philippines

18.882.749

57.856.735

+152,98

+22,76

Braxin

21.517.095

39.164.012

+2.681,13

+809,47

Hàn Quốc

6.225.029

20.069.036

-16,85

-31,35

Campuchia

1.184.975

7.553.142

-65,18

-58,65

Nhật Bản

1.058.899

4.182.215

-82,75

-87,97

Dự kiến cả năm 2013, xuất khẩu điện thoại sẽ đạt đỉnh cao mới, có thể vượt qua mốc 20 tỷ USD và lần đầu Việt Nam có mặt hàng đạt kim ngạch vượt qua mốc này.

Mặt hàng điện thoại xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu do khu vực FDI sản xuất (chiếm tới 98,2%) và đã có mặt tại nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có nhiều nền kinh tế phát triển hoặc những nước mà Việt Nam thường nhập khẩu.

Điện thoại là mặt hàng xuất khẩu mới, có thị trường xuất khẩu khá rộng lớn. Năng lực sản xuất của sản phẩm này còn khá dồi dào, ngoài cơ sở sản xuất tại Bắc Ninh, nay lại có thêm dự án có vốn đăng ký 2 tỷ USD ở Thái Nguyên. Đáng lưu ý, các dự án này có một số điểm nổi bật: (1) Quy mô rất lớn; (2) Được đăng ký và đưa vào sản xuất khá nhanh chóng và cũng nhanh chóng phát huy tác dụng; (3) Địa bàn có dự án có điều kiện phát triển nhanh. Chẳng hạn, Bắc Ninh từ khi có dự án sản xuất điện thoại các loại và linh kiện đã nhanh chóng phát triển công nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng tổng kim ngạch xuất khẩu lên đứng thứ hai cả nước và nếu tính bình quân đầu người sẽ cao nhất cả nước. Thái Nguyên cũng trở thành địa bàn có lượng vốn đăng ký lớn (đến nay đứng thứ 17 cả nước), gia nhập câu lạc bộ các địa bàn có lượng vốn FDI đăng ký từ 2 tỷ USD trở lên, hứa hẹn trở thành cực tăng trưởng các tỉnh miền núi phía Bắc.