Lào đang được coi là điểm đầu tư và thị trường xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt các thương hiệu lớn đã định hình trong nước.

Về mặt đầu tư, năm 2012, Việt Nam có tổng số 222 dự án được cấp giấy phép đầu tư với số vốn đăng ký là 3,8 triệu USD, theo thống kê của Hiệp hội các nhà đầu tư Việt Nam sang Lào (AVIL). Hiện Việt Nam là nước đứng thứ ba trong số 52 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư sang Lào.

Việt Nam nằm trong nhóm dẫn dầu các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Lào, nhiều dự án bước đầu triển khai đã mang lại hiệu quả thiết thực. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KH&ĐT) Lào, riêng 10 tháng năm 2013, Việt Nam có 12 dự án đầu tư với tổng vốn 138 triệu USD. Một số dự án như đầu tư mỏ muối của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam trị giá tới 450 triệu USD….

Ông Southideth Phommalat - Tổng lãnh sự Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tại TP.HCM cho biết, sang năm 2014, hai bên thống nhất định kỳ trao đổi thông tin về đầu tư của Việt Nam vào Lào nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý, đồng thời phối hợp tổ chức Hội nghị hợp tác đầu tư Việt Nam vào Lào. Chính phủ Việt Nam - Lào đã giao Bộ Công Thương hai nước chủ trì , phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thành Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại biên giới Việt Nam - Lào đến năm 2025; Quy chế quản lý chợ biên giới chung Việt Nam - Lào năm 2014 và khẩn trương hoàn tất việc đàm phán để tiến tới ký kết Hiệp định thương mại song phương mới giữa hai nước.

Tuy nhiên, đánh giá về hiệu quả các dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam vào Lào, ông cho biết mặc dù hai nước đã tiến hành kiểm tra có hiệu quả các doanh nghiệp Việt Nam tại Lào, nhưng tiến độ triển khai một số dự án đầu tư còn chậm, nhất là trong lĩnh vực khai khoáng và năng lượng điện, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Lào cũng chưa đạt theo mức đề ra.

Từ nay đến hết năm 2013, Bộ Tài chính của hai nước sẽ tăng cường phối hợp, thúc đẩy tiến độ giải ngân 21 triệu USD theo Hiệp định đã ký cho dự án đầu tư vào Lào. Bộ Công Thương hai nước sẽ hoàn thành dự thảo Hiệp định trình Thủ tướng Chính phủ 2 nước cho ý kiến; Bộ KH & ĐT Lào sẽ gửi danh mục các dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam tại Lào cho Bộ KH & ĐT Việt Nam, sau đó hai bên sẽ phối hợp tổ chức Đoàn kiểm tra các dự án đầu tư này.

Ngoài ra, chủ đầu tư dự án xây dựng nhà máy thủy điện Xêkaman 1 sẽ hoàn thành theo đúng các điều khoản đã cam kết với Chính phủ Lào. Đối với Nhà máy thủy điện Xêkaman 3, chúng tôi sẽ đôn đốc chủ đầu tư báo cáo về việc tạm dừng vận hành tổ máy, nêu rõ nguyên nhân và các giải pháp khắc phục.

Đầu tư của Việt Nam vào khu vực Tam giác phát triển của ba nước đã tăng lên, như tỉnh Atapư và các tỉnh nam Lào. Hiện đã có nhiều sản phẩm bán ra thị trường như: Mía đường, mủ cao su, cà phê…

Về mặt hàng xuất khẩu. Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, 11 tháng đầu năm nay kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Lào đạt 417,1 triệu USD, tăng 9,66% so với cùng kỳ năm 2012.

Sắt thép hiện là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của doanh nghiệp Việt Nam sang Lào với giá trị xuất khẩu lên tới hơn 95 triệu USD, tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước, tăng 0,02%. Đứng thứ hai là mặt hàng xăng dầu với kim ngạch 93,9 triệu USD, tăng 5,40%.

Đáng chú ý, đối với mặt hàng dây điện và dây cáp điện, năm 2012 mặt hàng này có tốc độ tăng trưởng mạnh và 11 tháng năm nay tốc độ này vẫn duy trì tăng mạnh, tăng 137,53% so với cùng kỳ.

Số liệu thống kê từ TCHQ về tình hình xuất khẩu sang Lào 11 tháng 2013 – ĐVT: USD

Chủng loại mặt hàng

KNXK 11T2013
KNXK 11T2012
Tốc độ tăng trưởng KN (%)
Tổng KN
417.157.701
380.404.127
9,66
sắt thép các loại
95.616.902
95.594.657
0,02
xăng dầu các loại
93.974.752
89.157.903
5,40
phương tiện vận tải và phụ tùng
37.322.397
31.249.617
19,43
phân bón các loại
19.506.880
 
*
dây điện và dây cáp điện
18.797.745
7.913.831
137,53
máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác
16.206.468
19.127.255
-15,27
sản phẩm từ sắt thép
13.625.890
13.607.214
0,14
sản phẩm từ chất dẻo
12.677.608
 
*
than đá
9.659.823
10.210.325
-5,39
hàng rau quả
7.704.492
3.747.117
105,61
hàng dệt, may
7.426.935
6.454.452
15,07
sản phẩm gốm, sứ
6.359.732
 
*
giấy và các sản phẩm từ giấy
4.515.475
3.379.970
33,60
bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc
3.954.460
 
*
kim loại thường khác và sản phẩm
2.841.683
 
*
(Nguồn: Vinanet, Công Thương)