(VINANET) Theo thống kê, 4 tháng đầu năm 2014 Việt Nam đã xuất khẩu gần 75.453 tấn hạt tiêu, thu về 519,05 triệu USD (tăng 42% về lượng và 46,99% về giá so với cùng kì năm ngoái). Trong tháng Tư, Việt Nam đã xuất khẩu 26.125 tấn hạt tiêu, thu về 184,38 triệu USD.

Giá tiêu đen đạt 6.596 USD/tấn, giá hạt tiêu trắng trắng ở mức 9.606 USD/tấn, tăng 7,94%. Đây là mức giá kỷ lục cao nhất từ trước đến nay của ngành hàng hồ tiêu. Hiện nông dân và nhà buôn đang giữ hạt chờ giá cao hơn. Thị trường tiêu nước ngoài vẫn khá trầm lắng và chưa sôi động lắm

Dự báo, cả năm 2014, sản lượng tiêu cả nước khoảng 125.000 - 130.000 tấn, tạm nhập tái xuất 20.000 tấn, tổng sản lượng xuất khẩu 150.000 tấn và kim ngạch sẽ cán mốc 1 tỉ USD. Nếu đúng như dự báo này thì đây sẽ là năm kỷ lục của ngành hồ tiêu mà cách nay 10 năm chưa ai nghĩ đến.

Thị trường lớn tiêu thụ hạt tiêu của Việt Nam là Hoa Kỳ, Singapore, Ấn Độ, UAE, Hà Lan; trong đó, xuất sang Hoa Kỳ nhiều nhất, chiếm 19,95% tổng kim ngạch, đạt 103,57 triệu USD trong 4 tháng, tăng 38,11% so với cùng kỳ. Tiếp sau đó là Singapore chiếm 13,54%, đạt 70,29 triệu USD, tăng mạnh 242,99%; Ấn Độ chiếm 7,11%, đạt 36,9 triệu USD, tăng 124,72%; UAE chiếm 6,29%, đạt 32,67triệu USD, tăng 36,74%; Hà Lan chiếm 6,21%, đạt 32,25triệu USD, tăng 58,71%.   

Nhìn chung, hầu hết các thị trường xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam đều tăng trưởng dương về kim ngạch so với cùng kỳ; trong đó, xuất khẩu tăng mạnh ở các thị trường như: Singapore (+243%); Ấn Độ (+124,72%); Pakistan (+250%); Pháp (+118,4%); Malaysia (+155,5%); Cô Oét (+108,2%).

Đối với tình hình thương lái Trung Quốc thu mua rễ tiêu trong thời gian gần đây, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch VPA nhận định: Đây là một hiện tượng cục bộ ở một vài địa phương với số lượng rễ tiêu thu mua khoảng vài trăm ký. Tuy nhiên, việc này tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến diễn biến phát triển thuận lợi của ngành hồ tiêu Việt Nam. Vì vậy, VPA đã kịp thời cảnh báo, ngăn chặn hành vi mua bán mờ ám trên để không tạo thành phong trào gây tác động tiêu cực đến vùng trồng tiêu cả nước

Huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang là nơi trồng hạt tiêu lớn của Việt Nam năm nay được mùa, được giá; nhiều vườn tiêu có năng suất 3 - 4 kg hạt/trụ, tăng 50 - 100% so với trước. Dự tính năm nay sản lượng tiêu hạt Phú Quốc đạt trên 1.000 tấn, tăng khoảng 50 tấn so với kế hoạch.

Hiện, giá tiêu hạt cũng đang ở mức từ 150.000 - 160.000 đồng/kg, tăng từ 20.000 - 30.000 đồng/kg so với thời điểm sau Tết Nguyên đán.

Huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang hiện có diện tích hồ tiêu hơn 427 ha, tập trung phần lớn ở hai xã Cửa Dương và Cửa Cạn với năng suất bình quân đạt 2 - 3 tấn/ha. Đến cuối tháng 4, các nhà vườn đã thu hoạch với sản lượng trên 990 tấn tiêu hạt, vượt 4,2% kế hoạch năm, tăng 6,4% so cùng kỳ năm 2013.

Năm 2015, huyện đảo Phú Quốc có kế hoạch nâng diện tích chuyên canh hồ tiêu lên 500 ha, sản lượng 1.200 tấn tiêu hạt trở lên. Với điều kiện thuận lợi về khí hậu, đất đai, huyện đảo này đầu tư phát triển cây tiêu theo hướng đạt chuẩn GlobalGAP, nâng cao chất lượng, giá trị kinh tế đặc sản hồ tiêu Phú Quốc.

Số liệu Hải quan về xuất khẩu hạt tiêu 4 tháng đầu năm 2014. ĐVT: USD

Thị trường

T4/2014

4T/2014

T4/2014 so T3/2014(%)

4T/2014 so cùng kỳ(%)

Tổng kim ngạch

      184.375.859

      519.048.485

+5,53

+46,99

Hoa Kỳ

        37.341.003

      103.566.156

+8,23

+38,11

Singapore

        31.065.916

        70.287.528

+164,39

+242,99

Ấn Độ

        15.779.066

        36.901.202

+43,03

+124,72

Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất

        13.782.187

        32.667.932

-4,95

+36,74

Hà Lan

        12.928.301

        32.245.706

+6,05

+58,71

Pakistan

          8.549.549

        19.340.703

+36,83

+250,02

Ai Cập

          6.153.107

        16.915.415

-9,90

+8,50

Tây Ban Nha

          5.917.955

        16.890.575

-6,93

+61,65

Đức

          4.905.753

        16.815.321

-40,81

-57,89

Nga

          4.940.610

        11.575.810

+35,96

+16,74

Hàn Quốc

          2.330.850

        10.720.611

-18,70

+44,95

Thái Lan

          1.393.220

          7.973.005

-52,79

+98,27

Anh

          1.556.774

          7.633.743

-27,03

-26,97

Pháp

          2.599.641

          7.209.040

-1,33

+118,41

Malaysia

          2.454.102

          7.104.520

+12,78

+155,50

Philippines

          2.254.168

          6.591.014

+10,90

+35,06

Nhật Bản

             797.912

          5.687.255

-55,11

+5,40

Ba Lan

          2.507.565

          5.115.314

+57,81

-19,15

Italia

             946.587

          5.101.808

-35,88

+12,38

Ucraina

          2.279.211

          4.453.679

+306,70

+23,33

Canada

          1.029.012

          4.416.245

-39,48

+33,70

Nam Phi

          1.184.330

          3.458.287

+118,95

-33,43

Australia

             696.497

          3.223.765

-37,19

-5,81

Thổ Nhĩ Kỳ

             363.825

          2.985.862

-73,68

+34,72

Cô Oét

             184.221

          1.280.671

-76,92

+108,21

Bỉ

             202.460

          1.243.551

-59,83

-14,21

Thủy Chung

Nguồn: Vinanet