(VINANET) – Số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam cho biết, tháng đầu tiên của năm 2015, Việt Nam đã nhập khẩu 1,1 tỷ USD từ thị trường Nhật Bản, tăng 54,06% so với cùng kỳ năm trước.

Việt Nam nhập khẩu từ Nhật Bản các mặt hàng như máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng, máy vi tính sản phẩm điện tử, sắt thép, xe máy nguyên chiếc, phân bón, xơ sợi dệt… trong số những mặt hàng nhập khẩu từ Nhật Bản thì máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng có kim ngạch lớn nhất, chiếm thị phần lớn, chiếm 37,7% tổng kim ngạch, đạt 450,6 triệu USD, tăng 63,3% so với tháng 1/2015.

Mặt hàng chiếm thị phần lớn thứ hai là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 194,6 triệu USD, tăng 85,63%; kế đến là mặt hàng sắt thép, đạt 88,5 triệu USD, tăng 4,37%...

Nhìn chung, tháng 1/2015 Việt Nam nhập khẩu từ Nhật Bản tăng ở hầu khắp các chủng loại mặt hàng, số mặt hàng có tốc độ tăng trưởng dương chiếm 80,5%, trong đó nhập khẩu nhóm hàng điện tử có tốc độ tăng vượt trội,cụ thể điện thoại các loại và linh kiện tăng 549,13%; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 261,88%. Nhóm có tốc độ tăng mạnh thứ hai là dược phẩm, tăng 151,11%. Đứng thứ ba về tốc độ tăng mạnh là nhóm ô tô nguyên chiếc, linh kiện và phụ tùng tăng lần lượt 145,43% và tăng 168,47%.

Bên cạnh đó, những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng âm gồm: hóa chất giảm 20,89%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 24,36%; dây điện và dây cáp điện giảm 20,64%;…

Thống kê hàng hóa nhập khẩu từ thị trường Nhật Bản tháng 1/2015 – ĐVT: USD

 
T1/2014
T1/2014
% so sánh T1/2015 với T1/2014
Tổng KN
1.194.188.228
775.142.267
54,06
máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
450.654.714
275.574.318
63,53
máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
194.634.437
104.853.009
85,63
sắt thép các loại
88.550.701
84.846.542
4,37
sản phẩm từ chất dẻo
49.852.000
39.858.217
25,07
linh kiện, phụ tùng ô tô
44.221.562
16.471.600
168,47
sản phẩm từ sắt thép
43.928.983
28.795.439
52,56
vải các loại
41.254.183
24.793.493
66,39
ô tô nguyên chiếc các loại
25.416.408
10.356.013
145,43
chất dẻo nguyên liệu
23.404.255
18.067.078
29,54
sản phẩm hóa chất
20.546.912
17.302.099
18,75
kim loại thường khác
18.261.659
23.030.188
-20,71
nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày
15.563.130
12.757.957
21,99
hóa chất
15.486.922
19.575.545
-20,89
phương tiện vận tải khác và phụ tùng
10.537.514
4.060.211
159,53
cao su
8.547.905
6.027.271
41,82
dây điện và dây cáp điện
8.471.706
10.675.360
-20,64
giấy các loại
8.175.837
5.831.911
40,19
sản phẩm từ cao su
8.110.751
6.017.934
34,78
Sản phẩm từ kim loại thường khác
6.678.979
4.434.367
50,62
hàng thủy sản
4.872.584
3.734.051
30,49
máy ảnh, máy quay phim và linh kiện
4.643.537
1.283.158
261,88
phân bón các loại
3.750.637
3.486.172
7,59
xơ, sợi dệt các loại
3.632.008
3.925.748
-7,48
sản phẩm từ giấy
2.866.625
2.733.931
4,85
thuốc trừ sâu và nguyên liệu
2.816.890
1.248.571
125,61
điện thoại các loại và linh kiện
2.799.674
431.297
549,13
dđá quý, kim loại quý và sản phẩm
2.726.998
2.146.830
27,02
Xăng dầu các loại
2.673.418
 
 
sản phẩm khác từ dầu mỏ
2.052.180
3.605.153
-43,08
quặng và khoáng sản khác
1.478.026
669.944
120,62
dược phẩm
1.446.731
576.145
151,11
hàng điện gia dụng và linh kiện
1.003.703
631.139
59,03
thức ăn gia súc và nguyên liệu
376.375
1.075.974
-65,02
sữa và sản phẩm
309.944
93.417
231,79
gỗ và sản phẩm gỗ
307.271
406.206
-24,36
Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh
9.662.636
 
 
Chế phẩm thực phẩm khác
927.816
 
 
Nguyên phụ liệu thuốc lá
3.980.375
 
 
Chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh
1.430.694
 
 

(Nguồn số liệu: Thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam)

Dẫn nguồn tin từ Báo Đầu tư, các doanh nghiệp Nhật Bản vẫn chọn Việt Nam là địa điểm đầu tư quan trọng, dù lo lắng về rủi ro trong môi trường đầu tư vẫn khá lớn.

Thông tin từ UBND Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) cho biết, Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) mới đây vừa công bố kết quả “Khảo sát về thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Nhật Bản tại Châu Á và Châu Đại Dương năm 2014” và báo cáo “Tổng quan về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam (năm 2014)”.

Ông Yasuzumi Hirotaka, Giám đốc điều hành Văn phòng đại diện JETRO tại TPHCM cho biết, kết quả khảo sát cho thấy 66% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam có xu hướng mở rộng hoạt động kinh doanh. Đây là tỉ lệ cao so với các quốc gia khác và cho thấy Việt Nam tiếp tục được coi là địa điểm đầu tư quan trọng của các doanh nghiệp Nhật Bản.

Ông Yasuzumi Hirotaka khẳng định, doanh nghiệp Nhật Bản luôn tôn trọng pháp luật, hoạt động kinh doanh cởi mở và công bằng, hướng tới phát triển cùng xã hội Việt Nam. Các doanh nghiệp Nhật đầu tư vào Việt Nam đều mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ tích cực từ Chính phủ Việt Nam.

Về thuận lợi trong môi trường đầu tư, Việt Nam được xếp thứ 4 trên tổng số 15 quốc gia về chi phí nhân công rẻ và hơn một nửa số doanh nghiệp cũng đánh giá cao tình hình chính trị, xã hội ổn định của Việt Nam.

Ông Yasuzumi Hirotaka cho biết, tuy một số rủi ro trong đầu tư mà các doanh nghiệp Nhật Bản đang phải đối mặt đã được cải thiện, nhưng rủi ro lớn nhất tại Việt Nam về “hệ thống pháp luật” vẫn còn tồn tại. Hơn một nửa số doanh nghiệp nhìn nhận “chi phí nhân công tăng cao”, “thủ tục hành chính”, “thủ tục thuế” là những vấn đề cần phải được nhanh chóng cải thiện.

Về tình hình cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện, tỉ lệ nội địa hóa của Việt Nam là 33,2%, tăng 1% so với năm 2013, cao hơn Philippines (28,4%), nhưng thấp hơn nhiều so với Trung Quốc (66%), Thái Lan (55%), Indonesia (43%), Malaysia (41%).

Để nâng cao năng lực cạnh tranh về mặt chi phí, ông Yasuzumi Hirotaka cho rằng cần tăng thu mua từ doanh nghiệp Việt Nam, Chính phủ cần hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam thuộc ngành công nghiệp hỗ trợ bằng các hình thức như: cho vay lãi suất thấp, ưu đãi về thuế, đào tạo nguồn nhân lực.

Về kỳ vọng vào việc hội nhập kinh tế, khoảng 70% doanh nghiệp hy vọng “đơn giản hóa thủ tục thông quan” và mong rằng vấn đề này được cải thiện nhiều hơn.

Trong năm 2014, số vốn đầu tư bổ sung của Nhật Bản tại Việt Nam giảm 81% so với năm trước, số dự án đầu tư mới của Nhật Bản trong ngành sản xuất giảm cả về số dự án và vốn đầu tư. Các dự án đầu tư mới từ Nhật Bản tại Việt Nam chủ yếu vẫn là các dự án quy mô vừa và nhỏ, trong đó dự án dưới 5 triệu USD chiếm 85%.

NG.Hương

Nguồn: Vinanet