(Vinanet) Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 5/2013 đạt 592,73 triệu USD, tăng 15,39% so với tháng trước đó, và cũng tăng 7,82% so với cùng tháng năm 2012, nhưng tính chung cả 5 tháng đầu năm 2013 thì kim ngạch là sụt giảm nhẹ 1,32% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt trên 2,3 tỷ USD. Ước tính kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong tháng 6 đạt 600 triệu USD, nâng tổng kim ngạch 6 tháng đầu năm lên 2,8 tỉ đô la Mỹ; dự kiến ngành thủy sản đạt kim ngạch 3,5 - 3,7 tỉ USD trong 6 tháng cuối năm nay

Dự báo xuất khẩu thủy sản trong năm 2013 có thể đạt 6,5 tỉ USD, tăng khoảng 300 triệu USD so với năm 2012, dù xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực vẫn còn gặp khó. 

Xuất khẩu thủy sản sang đa số các thị trường trong tháng 5 đều đạt mức tăng kim ngạch so với tháng 4; trong đó xuất sang các thị trường có mức tăng mạnh như: Đan Mạch (+75,42%); Hy Lạp (+59,86%); Bỉ (+51,37%); Canada (+49,08%);Trung Quốc +43,71%; Singapore (+43,29%); Cô Oét (+40,88%).

Tính chung cả 5 tháng đầu năm, xuất khẩu thủy sản bị sụt giảm ở hầu hết các thị trường; trong đó thị trường lớn như Nhật Bản cũng bị giảm 3,79%, đạt 388,97 triệu USD; Hàn Quốc giảm 19,54%, đạt 156,97 triệu USD. Tuy nhiên, 2 thị trường lớn là Hoa Kỳ và Trung Quốc vẫn đạt mức tăng trưởng dương, lần lượt là 6,05%, 470,44 triệu USD và 41,26%, 126,35 triệu USD.

Trong các mặt hàng thủy hải sản xuất khẩu, cá ngừ hiện là mặt hàng có mức tăng trưởng mạnh nhất từ đầu năm đến nay với kim ngạch xuất khẩu cả nước ước đạt hơn 155 triệu USD, tăng gần 20% so với cùng kỳ năm ngoái. 5 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt 670 triệu USD, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm 2012 và dự kiến trong 6 tháng con số này sẽ đạt khoảng 800 triệu USD, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước. xuất khẩu tôm của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2013 ước đạt 1,031 tỷ USD, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2012.

Kim ngạch xuất khẩu thủy sản 5 tháng đầu năm 2013

ĐVT: USD

 

 

 

Thị trường

 

 

T5/2013

 

 

5T/2013

% tăng, giảm KN T5/2013 so với T4/2013

% tăng, giảm KN T5/2013 so với T5/2012

% tăng, giảm KN 5T/2013 so với cùng kỳ

Tổng cộng

592.726.091

2.301.296.573

+15,39

+7,82

-1,32

Hoa Kỳ

144.655.039

470.443.235

+26,79

+29,70

+6,05

Nhật Bản

102.331.796

388.970.389

+4,11

+6,22

-3,79

Hàn Quốc

39.577.543

156.968.768

+9,89

-16,95

-19,54

Trung Quốc

34.702.395

126.349.314

+43,71

+47,02

+41,26

Đức

14.588.150

73.397.396

-0,75

-17,24

-2,76

Australia

14.391.197

63.087.748

+6,11

-10,63

-5,65

Thái Lan

14.529.218

56.198.085

+26,93

+33,87

+22,80

Italia

12.973.749

54.538.973

+3,40

-14,16

-6,06

Tây Ban Nha

10.053.473

51.361.047

-14,28

-13,65

-10,83

Canada

15.407.924

51.298.491

+49,08

+18,19

-0,21

Hà Lan

10.555.705

46.771.805

-1,02

-17,82

-20,44

Hồng Kông

11.317.646

46.614.039

+19,52

-16,45

-15,62

Mexico

9.802.299

46.199.517

+18,90

+84,06

+2,14

Đài Loan

12.368.771

44.972.211

+24,63

+9,42

-5,19

Anh

11.299.880

42.731.754

+28,71

+26,25

+2,34

Braxin

10.212.607

42.731.264

+22,68

+103,38

+67,36

Pháp

12.239.393

42.011.473

+23,16

+12,31

-11,83

Singapore

9.571.901

35.939.422

+43,29

+29,63

+4,98

Bỉ

9.271.677

33.861.410

+51,37

+11,33

-10,08

Ai Cập

5.297.573

25.775.559

-10,08

-57,00

-30,24

Ả Rập Xê út

5.878.189

25.173.137

-6,91

+7,36

+8,82

Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất

6.118.699

24.411.251

+10,66

-2,64

-3,74

Thuỵ Sĩ

5.632.344

24.326.172

-0,22

-28,37

+0,15

Nga

5.923.637

22.864.186

+12,43

-40,46

-47,32

Malaysia

5.024.432

22.529.789

+2,32

-11,55

+12,05

Colômbia

3.706.492

20.479.272

-14,47

+54,49

-2,49

Philippines

4.637.777

18.434.911

+17,87

+62,50

+28,47

Bồ Đào Nha

3.142.679

17.630.799

-25,48

-15,54

+13,62

Israen

3.452.158

16.750.042

+29,24

+10,44

+41,93

Ucraina

2.677.910

16.217.103

-41,59

-5,53

+7,30

Đan Mạch

2.887.692

9.897.594

+75,42

-0,69

-12,00

Campuchia

2.774.925

9.870.897

+35,06

+45,03

+39,08

Ba Lan

1.423.788

8.424.007

-12,77

+36,65

-33,64

NewZealand

910.889

6.242.614

-30,34

+1,85

+29,49

Hy Lạp

1.509.676

5.346.047

+59,86

+53,95

-37,75

Ấn Độ

1.257.865

5.082.593

+35,64

-23,71

-23,12

Pakistan

265.436

5.080.923

-63,19

-14,41

-2,81

Thuỵ Điển

980.448

4.884.614

+3,83

-28,10

-17,40

Cô Oét

1.070.546

4.314.165

+40,88

+19,30

+13,73

Rumani

97.195

3.973.950

-49,73

-83,33

+1,46

Thổ Nhĩ Kỳ

400.560

1.970.256

-44,75

-42,95

-24,66

Séc

202.760

1.237.289

-8,90

-66,32

-67,46

Indonesia

281.237

1.158.072

+9,70

-5,32

-64,71

I rắc

261.878

1.090.515

-2,52

+17,03

-31,61

Brunei

134.291

516.944

+3,71

-42,28

-31,63

Đông Timo

0

113.936

*

*

*

Việt Nam đang là nước xuất khẩu thủy sản lớn thứ tư thế giới, nhưng doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam lại thường xuyên đối mặt tình trạng thiếu nguyên liệu sản xuất. Nếu không giải tỏa được nghịch lý này thì thời gian tới sẽ thêm hàng loạt DN phá sản, mục tiêu xuất khẩu thủy sản khó đạt được. Nguyên nhân do hiện có khoảng 30% số người nuôi cá tra và 60% số hộ nuôi tôm không muốn vay vốn ngân hàng để đầu tư, vì hiệu suất sinh lời rất thấp, không đủ trả lãi vay. Đấy là chưa kể hội chứng EMS khiến tôm chết hàng loạt, gây thất thoát lớn cho người nuôi và DN xuất khẩu không có nguyên liệu.

Mặt khác, tình hình bất ổn trên Biển Đông gần đây đã phần nào hạn chế lượng tàu cá ra khơi khai thác thủy sản, cùng với việc thương nhân Trung Quốc tăng cường mua hàng thủy sản ngay ngoài biển cũng như tới tận các bến cá và cảng cá trên đất liền nước ta, mua với giá cao để tranh giành với DN Việt Nam, khiến nguồn nguyên liệu thủy sản khai thác đã hạn chế lại càng gay gắt hơn. do nguyên liệu trong nước thiếu trầm trọng, các DN buộc phải tìm cách nhập khẩu nguyên liệu để giải quyết đơn hàng. Tuy nhiên, DN rất khó khăn trước mức thuế nhập khẩu nguyên liệu thủy sản đang 12 - 18%. Với mức thuế này, DN bị treo nợ thuế với số tiền rất lớn cũng như thêm nhiều phiền toái từ thủ tục hải quan, nhất là thanh lý thuế và hoàn thuế. Trước tình hình này, nhiều ý kiến cho rằng Chính phủ nên đưa mức thuế về 0% để cứu DN; nếu không mục tiêu xuất khẩu thủy sản năm 2013 (4,5 tỷ USD) khó đạt, càng khó hy vọng 6,5 - 6,7 tỷ USD vào năm 2015 và 8 tỷ USD năm 2020.