(VINANET) Năm 2014 hạt điều thuộc nhóm ngành nông sản XK chủ lực của Việt Nam, đứng thứ 4 về kim ngạch sau: lúa gạo, cao su, cà phê. Theo đánh giá của các chuyên gia nông nghiệp, giá trị gia tăng của sản phẩm điều đứng ở vị trí số 1 trong các ngành nông sản.

Kim ngạch xuất khẩu hạt điều của Việt Nam tăng dần qua từng năm, từ mức 846,68 triệu USD năm 2009 đã tăng lên 1,64 tỷ USD vào năm 2013 và lên mức kỷ lục năm 2014 với 302.900 tấn, thu về gần 2 tỷ USD (tăng 16,2% về lượng và 21,16% về giá trị so với năm 2013). Năm 2014, cộng thêm các sản phẩm phụ như dầu vỏ hạt điều và sản phẩm chế biến sâu thì tổng kim ngạch XK hạt điều đạt 2,2 tỷ USD.

Hạt điều Việt Nam hiện nay đã có mặt trên 50 thị trường trên thế giới và không phụ thuộc vào bất cứ thị trường XK nào. Năm 2014 là năm thứ 9 liên tiếp Việt Nam đứng đầu thế giới về XK điều nhân và năm đầu tiên đạt giá trị XK trên 2 tỷ USD.

Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hà Lan, Australia là những thị trường có kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD, chiếm 64,53% tổng kim ngạch xuất khẩu hạt điều của Việt Nam năm 2014. Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất, với kim ngạch 635,94 triệu USD, chiếm 31,88% tổng kim ngạch xuất khẩu hạt điều của cả nước, tăng 17,97% so với cùng kỳ năm 2013. Đứng thứ hai là thị trường Trung Quốc, tăng 4,39% ứng với kim ngạch 313,30 triệu USD, chiếm 15,7%. Hà Lan là thị trường có kim ngạch lớn thứ 3, chiếm 11,48%, đạt 228,95 triệu USD, tăng 42,83%. Thị trường Australia chiếm 5,48%, đạt 109,23 triệu USD, tăng 12,56%.

Nhìn chung, xuất khẩu hạt điều năm 2014 sang hầu hết các thị trường đều có sự tăng trưởng cao về kim ngạch so với năm 2013, đáng kể như Nhật Bản (tăng 205,19%), Bỉ (tăng 108,74%), Pháp (tăng 83,83%),… Tuy nhiên, xuất khẩu hạt điều sang Ấn Độ lại bị sụt giảm mạnh về kim ngạch, giảm 84,83% so với năm 2013. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang Na Uy và Nga cũng bị sụt giảm nhẹ, với mức giảm tương ứng 4,82% và 3%.

Năm 2014, Nhà nước đã tháo gỡ một số cơ chế chính sách cho DN chế biến hạt điều, cụ thể là đã miễn thuế GTGT cho các sản phẩm điều thô và sơ chế, kèm theo là nhiều cơ chế ưu đãi về vay vốn, hạn mức tín dụng cho DN chế biến điều, giảm thiểu các thủ tục về thuế và hải quan,…

Tuy nhiên, ngành điều vẫn còn hạn chế cần khắc phục, đó là mặc dù ViệtNam là quốc gia chế biến và XK điều nhân hàng đầu thế giới nhưng tiêu thụ trong nước còn hạn chế, chỉ chiếm khoảng 6% so với XK. Nguyên nhân là do người tiêu dùng còn chưa được tiếp cận nhiều với những thông tin về giá trị dinh dưỡng của hạt điều và thiếu các chương trình kích cầu, quảng bá sản phẩm trong nước.

Để tái cơ cấu ngành điều theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10-6-2013, vừa qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt Đề án phát triển bền vững ngành điều Việt Nam đến năm 2020.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là giữ ổn định diện tích điều khoảng 300.000 ha; năng suất 1,5 tấn hạt/ ha; sản lượng 400.000 tấn hạt điều; nâng tỷ lệ chế biến sâu sản phẩm điều lên 20% và dầu vỏ hạt điều lên 50%. Tổng kim ngạch XK hạt điều và sản phẩm từ điều đạt 2,5 tỷ USD/năm. Tiêu dùng nội địa đạt tỷ trọng 20% sản lượng chế biến.

Số liệu của TCHQ về xuất khẩu hạt điều năm 2014. ĐVT: USD

 

Thị trường

 

Năm 2014

 

Năm 2013

Năm 2014 so với năm 2013(%)

Tổng kim ngạch

       1.995.063.106

       1.646.675.690

+21,16

Hoa Kỳ

           635.943.192

           539.049.223

+17,97

Trung quốc

           313.303.207

           300.127.106

+4,39

Hà Lan

           228.947.124

           160.294.156

+42,83

Australia

           109.231.975

             97.046.218

+12,56

Canada

             72.946.483

             61.291.826

+19,02

Anh

             72.740.772

             52.195.392

+39,36

Nga

             56.808.110

             58.563.822

-3,00

Thái Lan

             48.276.401

             41.164.604

+17,28

Đức

             43.262.597

             29.841.999

+44,97

Nhật Bản

             29.325.971

               9.609.102

+205,19

Israel

             26.461.390

             23.666.798

+11,81

Italia

             25.036.075

             16.314.950

+53,45

Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất

             23.537.572

             14.744.703

+59,63

Đài Loan

             21.553.890

             18.486.222

+16,59

Pháp

             20.533.793

             11.170.236

+83,83

Hồng Kông

             16.806.363

             14.368.827

+16,96

New Zealand

             15.654.000

             13.916.379

+12,49

Singapore

             15.499.547

             10.101.083

+53,44

Tây Ban Nha

             14.432.437

             12.116.522

+19,11

Bỉ

             10.425.583

               4.994.459

+108,74

Nam Phi

               8.831.871

               7.913.098

+11,61

Philippines

               7.392.086

               5.419.524

+36,40

Ucraina

               5.396.564

               8.937.470

-39,62

Nauy

               5.028.226

               5.283.000

-4,82

Hy Lạp

               4.529.558

               2.789.156

+62,40

Pakistan

               3.951.059

               3.310.175

+19,36

Ấn Độ

               3.555.007

             23.427.462

-84,83

 Thủy Chung

Nguồn: Vinanet