(VINANET) Càng về cuối năm, nhu cầu mua sắm ô tô ngày càng tăng mạnh và dự báo một năm bùng nổ của thị trường ô tô nhập khẩu tại Việt Nam. Nhập khẩu ô tô nguyên chiếc về Việt Nam tháng 11/2014 tăng 30,2% về số lượng và tăng 16,4% về trị giá so với tháng trước đó, đưa tổng số xe ô tô nguyên chiếc 11 tháng lên 61.595 chiếc, trị giá trên 1,34 tỷ USD (tăng 95,5% về số lượng và tăng mạnh 108,6% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái).   

Theo Tổng cục Thống kê, trong tháng 12 Việt Nam nhập khẩu 10.000 ôtô nguyên chiếc, và cũng là tháng thứ 2 liên tiếp trong năm có lượng xe nhập khẩu lên đến con số 10.000 chiếc, cao nhất trong vòng 5 năm nay. Tính chung trong năm 2014, Việt Nam nhập khẩu khoảng 72.000 xe ô tô nguyên chiếc với tổng giá trị tương đương 1,57 tỷ USD, tăng 103,8% về lượng và tăng 117,3% về giá trị so với năm ngoái.

Mặc dù kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của cả nước trong tháng 11 đều giảm, song giá trị nhập khẩu ô tô nguyên chiếc vẫn tăng cao. Giá trị nhập khẩu ô tô nguyên chiếc chiếm khoảng hơn 1% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của cả nước. Tuy nhiên, đối với mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu như ô tô nguyên chiếc, đây là một tỷ lệ khá cao; cho thấy nhu cầu sắm xe ngoại của người Việt vẫn không ngừng tăng lên.

Tính riêng trong tháng 11, Thái Lan vượt Hàn Quốc, trở thành thị trường xuất khẩu xe ô tô lớn nhất vào Việt Nam với 2.245 chiếc (37,87 triệu USD). Lũy kế 11 tháng đầu năm nhập từ nước này lên tới 12.953 chiếc (217,7 triệu USD).

Đáng lưu ý, lượng nhập khẩu ô tô từ Trung Quốc tháng 11 đạt tới 1.871 chiếc (71,16 triệu USD), là thị trường xuất khẩu xe ô tô lớn thứ hai vào Việt Nam. Tổng số xe nhập khẩu từ nước này 11 tháng đạt 11.631 chiếc (450,6 triệu USD).

Trong khi đó, số xe từ thị trường Hàn Quốc vào Việt Nam tháng 11 đạt 1.825 chiếc (36,4 triệu USD) và 14.766 chiếc (267,05 triệu USD) trong 11 tháng đầu năm 2014.

Mặc dù kém Hàn Quốc và Thái Lan về số lượng, song Trung Quốc hiện đang là nước có giá trị kim ngạch xuất khẩu ô tô vào Việt Nam lớn nhất. Số lượng xe nhập từ thị trường này có chiều hướng tăng lên qua các tháng, trong đó, tháng 11 đang giữ kỷ lục cao nhất về số xe cũng như giá trị nhập khẩu.

Giá ô tô nhập khẩu sắp giảm

Theo lộ trình gia nhập Khu vực mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), từ năm 2014 đến 2018, thuế suất nhập khẩu ôtô nguyên chiếc từ khu vực ASEAN về Việt Nam sẽ hạ dần xuống 0%. Cụ thể, trong năm 2014, mức thuế nhập khẩu sẽ giảm còn 50%, năm 2015 còn 35%, năm 2016 còn 20%, năm 2017 là 10% và 2018 là 0%.

Kể cả sang năm 2015 mặc cho thuế suất thuế nhập khẩu vẫn giữ nguyên mức 50% thì với các phương án ưu đãi cho sản xuất ôtô trong nước do Bộ Công thương đề xuất thành hiện thực, nghĩa là giảm thuế tiêu thụ đặc biệt từ 30-50%, giảm lệ phí trước bạ 50% thì các mẫu xe nhập khẩu có dung tích xi lanh dưới 2.0L cũng được hưởng các ưu đãi này.

Như vậy, điều đáng trông đợi nhất năm 2015 cho thị trường ô tô Việt Nam đó chính là sự ưu đãi về thuế, từ thuế tiêu thụ đặc biệt cho đến thuế nhập khẩu cũng như về phí khiến những chiếc xe giảm giá đến cả trăm triệu đồng. Người tiêu dùng sẽ được sở hữu những chiếc xe hơi giá rẻ, phù hợp với thu nhập của họ.

Tuy nhiên, đây cũng chính là áp lực không nhỏ tạo ra đối với các doanh nghiệp xe nội địa trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt với những chiếc xe nhập khẩu.

Số liệu của TCHQ về nhập khẩu ô tô 11 tháng năm 2014

 

 Thị trường

11T/2014

11T/2013

 

 

11T/2014 so với cùng kỳ(%)

Lượng

(chiếc)

Trị giá

(USD)

Lượng

(chiếc)

Trị giá

(USD)

Lượng

 

Trị giá

 

Tổng cộng

      61.595

       1.343.498.882

      31.496

      643.889.063

+95,56

+108,65

Trung Quốc

      11.631

          450.683.178

        3.593

      137.474.805

+223,71

+227,83

Hàn Quốc

      14.766

          267.053.178

      13.094

      150.749.824

+12,77

+77,15

Thái Lan

      12.953

          217.700.828

        7.275

      133.065.166

+78,05

+63,60

Nhật Bản

        3.995

          131.313.448

        2.130

        59.765.077

+87,56

+119,72

Đức

        1.977

            69.416.389

        1.516

        57.918.482

+30,41

+19,85

Hoa Kỳ

        1.390

            55.187.865

           576

        22.046.757

+141,32

+150,32

Án Độ

      10.922

            43.816.641

           981

        30.580.538

+1013,35

+43,28

Anh

           633

            22.581.562

           261

          6.355.550

+142,53

+255,30

Indonesia

        1.626

            16.422.908

        1.551

        16.382.192

+4,84

+0,25

Nga

           111

              7.181.845

           112

          4.334.955

-0,89

+65,67

Pháp

           185

              6.845.605

             80

          4.233.506

+131,25

+61,70

Canada

           137

              4.570.071

             17

             830.863

+705,88

+450,04

 Thủy Chung

Nguồn: Vinanet