(Vinanet) Theo số liệu thống kê, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2013 giữa Việt Nam và Thụy Sỹ đạt 700,3 triệu USD, giảm 12% so với năm 2012. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam đạt 289,57 triệu USD, giảm 27,19%; nhập khẩu đạt 410,8 triệu USD, tăng 3,2% so với năm 2012. Việc giảm kim ngạch xuất khẩu trong năm 2013 so với năm 2012 chủ yếu do giảm xuất khẩu vàng, đá quý và cà phê; kim ngạch nhập khẩu tăng chủ yếu do tăng nhập khẩu mặt hàng dược phẩm.
Đá quí, kim loại quí là nhóm hàng chủ lực xuất khẩu sang Thụy Sĩ năm 2013, chiếm 26,2% tổng kim ngạch, sụt giảm 43,89% so với năm ngoái, chỉ đạt 75,85 triệu USD; mặt hàng điện thoại giảm mạnh nhất tới 99,74%, đạt 0,07 triệu USD; mặt hàng cà phê cũng giảm mạnh tới 96,12%, đạt 1,54 triệu USD.
Thống kê Hải quan về  xuất khẩu sang Thụy Sỹ năm 2013. ĐVT: USD
                                              
 
Mặt hàng
 
T12/2013
 
Năm 2013
T12/2013 so với T12/2012
(%)
Năm 2013 so với năm 2012 (%)
Tổng kim ngạch
23.549.288
289.567.024
-22,39
-27,19
Đá quí, kim loại quí và sản phẩm
2.734.499
75.852.363
-73,49
-43,89
Hàng thuỷ sản
5.559.116
70.103.991
+42,60
+18,35
Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác
2.774.054
31.607.021
*
*
Giày dép
3.417.382
24.388.451
-5,69
-11,30
Hàng dệt may
1.101.529
13.568.143
-15,25
-3,85
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
661.956
10.057.526
+6,80
-23,88
Túi xách, ví, vali,mũ ô dù
1.050.992
7.934.750
+52,02
+30,74
Sản phẩm từ sắt thép
328.861
6.206.841
-44,81
+12,53
Sản phẩm từ chất dẻo
607.589
5.545.332
+2,74
-1,18
Gỗ và sản phẩm gỗ
578.213
3.827.906
-44,94
-18,36
Sản phẩm Gốm sứ
299.653
2.263.236
-5,94
+15,64
Cà phê
0
1.536.638
*
-96,12
Kim loại thường khác và sản phẩm
0
127.995
*
+38,25
Điện thoại các loại và linh kiện
67.253
67.253
*
-99,74
 
Hàng hóa của Thụy Sĩ nhập khẩu về Việt Nam năm 2013 trị giá 410,83 triệu USD, tăng 3,19% so với năm 2012; trong đó nhóm hàng máy móc, thiết bị được nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường này với 144,42 triệu USD, chiếm 35,15% trong tổng kim ngạch, giảm 17,84% so với năm 2012; tiếp đến là nhóm hàng dược phẩm 115,33 triệu USD, chiếm 28,07%, tăng 51,2%.  
Trong năm 2013, mặt hàng bông nhập khẩu từ Thụy Sĩ tăng mạnh nhất tới 123,88% so với năm trước, mặc dù kim ngạch chỉ đạt 0,46 triệu USD. Ngược lại nhóm sản phẩm sắt thép và thuốc trừ sâu và nguyên liệu giảm mạnh nhất, với mức giảm lần lượt là 73,18% và 51,03%.
Thống kê Hải quan về  nhập khẩu từ Thụy Sỹ năm 2013. ĐVT: USD
Mặt hàng
Tháng 12/2013
Năm 2013
T12/2013 so với T12/2012
(%)
Năm 2013 so với năm 2012 (%)
Tổng kim ngạch
35.338.659
410.829.301
+16,52
+3,19
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
11.048.455
144.415.696
-2,03
-17,84
Dược phẩm
8.335.670
115.325.649
+20,31
+51,20
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
2.602.969
28.719.047
-16,54
+3,85
Sản phẩm từ chất dẻo
975.412
10.486.413
-4,00
+29,01
Sản phẩm hoá chất
374.745
5.994.880
-36,33
-12,94
Sản phẩm từ sắt thép
705.718
5.403.102
+104,31
-73,18
Thuốc trừ sâu và nguyên liệu
832.887
5.219.775
+42,91
-51,03
Nguyên phụ liệu dược phẩm
300.063
4.272.509
+96,64
+13,39
Đá quí, kim loại quí và sản phẩm
93.936
4.214.316
-41,81
+20,47
Hoá chất
250.692
3.496.602
-7,50
-3,15
Kim loại thường khác
333.368
2.537.621
+0,15
-7,50
Vải các loại
208.054
2.463.333
-64,01
-38,02
Bông các loại
0
464.679
*
+123,88
Cùng với chính sách đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, việc Thụy Sĩ là nền kinh tế mạnh, ít bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới là những thuận lợi cơ bản cho phát triển quan hệ kinh tế, thương mại và công nghiệp giữa Việt Nam và Thụy Sĩ. Tuy nhiên, đặc điểm của thị trường Thụy Sỹ là hàng hóa nhập khẩu phải đảm bảo yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và tính nhân văn. Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất hàng hóa xuất khẩu cần nghiêm túc đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường sinh thái và tuyệt đối không xử dụng lao động trẻ em trong các dây chuyền sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu.
Thủy Chung
Nguồn: Vinanet/Hải quan