(VINANET) – Thị trường: Thấp hơn tháng trước khoảng 3% nhưng lượng ô tô tiêu thụ trong tháng 4/2014 vẫn vượt qua mốc 11.000 xe, tăng 29% so với cùng kỳ năm trước. Một số mẫu xe ăn khách vẫn đang “cháy” hàng khiến VAMA lạc quan nâng dự báo mức tiêu thụ xe của năm nay thêm 5.000 chiếc, lên 125.000 xe.

Theo Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), trong tháng 4, thị trường ô tô trong nước tiêu thụ hơn 11.340 xe, tăng 29% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó có 6.810 xe du lịch, xe đa dụng và 4.534 xe tải. Đây là tháng thứ 13 liên tiếp ghi nhận mức tăng của lượng xe bán ra trong toàn ngành và là tháng thứ 2 liên tiếp lượng ô tô tiêu thụ vượt 11.000 xe.

Tính chung 4 tháng đầu năm, cả nước tiêu thụ được hơn 41.300 xe, tăng 36% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, dòng xe ô tô con, tăng 48% đạt hơn 26.800 xe và dòng xe tải tăng trưởng 24%, đạt gần 14.560 xe. Lượng xe lắp ráp trong nước bán ra tăng đến 98% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 30.580 xe; trong khi xe nhập khẩu.

Dự báo thị trường ô tô trong nước những tháng tới sẽ tiếp tục sôi động, VAMA đã đưa ra những đánh giá lạc quan hơn về triển vọng thị trường ô tô Việt Nam trong năm nay.

Điều này hẳn có cơ sở khi chỉ tính riêng mẫu xe Vios mới 2014 của TMV sau hơn 1 tháng ra mắt đã rơi vào tình trạng “cháy” xe. Hiện tổng đơn đặt hàng Vios đã lên tới 3.200 chiếc chỉ sau chưa đầy 2 tháng và khách hàng muốn mua xe đặt hàng từ bây giờ nhưng phải chờ đến tháng 7, tháng 8 mới có xe.

Sức tiêu thụ tăng của thị trường ô tô đã khiến các doanh nghiệp liên tục đưa ra các sản phẩm mới. Đơn cử như Mercedes-Benz vừa giới thiệu tại thị trường Việt Nam dòng xe CLA mới có giá bán từ 1,45 tỷ đồng đến 2 tỷ đồng tùy từng mẫu xe. Hyundai Thành Công cũng vừa ra mắt mẫu sedan Accent phiên bản nâng cấp có giá bán sau thuế từ 551,2 triệu đồng. Một mẫu xe khác được dự báo sẽ “gây sốt” trên thị trường vào tháng 7 tới khi chính thức bán tại Việt Nam là EcoSport của hãng Ford, đây được xem là mẫu xe mới chủ lực của Ford Việt Nam trong năm 2014.

VAMA dự báo lượng xe bán ra trong tháng 5/2014 có thể đạt 10.530 xe, trong đó có 7.000 xe du lịch, 3.180 xe thương mại và 350 xe khác. VAMA cũng đã điều chỉnh dự báo mức tiêu thụ ô tô trong nước năm 2014 có thể đạt 125.000 xe, thay vì 120.000 xe như dự báo hồi đầu năm.

Nhập khẩu

Tiếp tục đà tăng trưởng từ quý I/2014, nay sang tháng đầu tiên của quý II, ôtô  nguyên chiếc được nhập về tăng so với tháng liền kề trước đó, tăng 1,1% về lượng và tăng 5,2% về trị giá đạt lần lượt 4,4 nghìn chiếc, trị giá 88,5 triệu USD, nâng lượng ôtô nguyên chiếc nhập trong 4 tháng đầu năm lên 14,9 nghìn chiếc, trị giá 291,6 triệu USD, tăng 49% về lượng và tăng 56,6% về trị giá so với cùng kỳ.

Việt Nam nhập khẩu ôtô từ các thị trường như Hàn Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Nhật Bản, Indonesia… trong đó Hàn Quốc là thị trường nhập chính, chiếm 35,3% lượng nhập khẩu, đạt 5,3 nghìn chiếc, trị giá 68,6 triệu USD, tăng 0,97% về lượng và tăng 24,82% về trị giá.

Thị trường nhập khẩu đứng thứ hai sau Hàn Quốc là Thái Lan, với 2,5 nghìn chiếc, trị giá 42,5 triệu USD, tăng 42,53% về lượng và tăng 27,73% về trị giá. Kế đến là thị trường Ấn Độ, 2,1 nghìn chiếc, trị giá 7,7 triệu USD, tăng 760% về lượng và tăng 114,98% về trị giá – đây cũng là thị trường có tốc độ nhập khẩu tăng mạnh nhất.

Như vậy, 4 tháng đầu năm nay, nhập khẩu ôtô nguyên chiếc các loại đều tăng trưởng ở hầu khắp các thị trường, duy chỉ có nhập khẩu từ thị trường Nga giảm cả về lượng và trị giá, giảm 77,89% về lượng và giảm 55,2% về  trị giá và nhập khẩu từ thị trường Đức giảm 6,23% về trị giá so với cùng kỳ.

Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường nhập khẩu ô tô nguyên chiếc 4 tháng 2014

ĐVT: lượng (chiếc); Trị giá (USD)

 Thị trường
NK 4T/2014
NK 4T/2013
% so sánh
Lượng
Trị giá
Lượng
trị giá
Lượng
trị giá
Tổng KN
14.982
291.608.719
10.062
186.553.559
48,90
56,31
Hàn Quốc
5.301
68.670.358
5.250
55.015.691
0,97
24,82
Thái Lan
2.584
42.503.217
1.813
33.276.081
42,53
27,73
Ấn Độ
2.150
7.745.150
250
3.602.760
760,00
114,98
Trung Quốc
2.076
86.672.548
1.160
38.654.668
78,97
124,22
Nhật Bản
1.021
31.270.520
514
18.161.754
98,64
72,18

Indonesia

606
5.665.852
388
3.460.485
56,19
63,73
Đức
580
19.016.116
310
20.279.134
87,10
-6,23
Hoa Kỳ
212
8.613.888
99
4.137.105
114,14
108,21
Anh
144
4.584.134
41
1.164.794
251,22
293,56
Pháp
46
1.541.328
32
1.237.384
43,75
24,56
Nga
21
1.090.600
95
2.434.550
-77,89
-55,20
Canada
17
644.300
9
374.663
88,89
71,97

NG.Hương

Nguồn: Vinanet/Báo Công Thương điện tử