(VINANET) Xuất khẩu rau quả của Việt Nam ra thị trường nước ngoài tháng 2/2015 mặc dù sụt giảm mạnh trên 34% so với tháng đầu năm, chỉ đạt 69,65 triệu USD, nhưng tính chung cả 2 tháng đầu năm, kim ngạch vẫn tăng 17,67% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 204,82 triệu USD.

Rau quả của Việt Nam vẫn xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Trung Quốc, kim ngạch 2 tháng đạt 60,12 triệu USD, chiếm 40,58% trong tổng kim ngạch, đạt mức tăng 38,23% so với cùng kỳ. Đứng sau thị trường Trung Quốc là các thị trường như: Hàn Quốc 9,74 triệu USD, Nhật Bản 9,48 triệu USD, Hoa Kỳ 8,29 triệu USD, Thái Lan 6,99 triệu USD, Malaysia 5,6 triệu USD.

Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, trong 2 tháng đầu năm 2015, đã có trên 945 tấn thanh long, chôm chôm, nhãn, xoài (bằng 25,8% so với cả năm 2014) đã được xuất khẩu sang 4 thị trường khó tính là Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand.

Trong đó, thanh long vẫn tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, chiếm tỷ trọng lớn nhất với gần 80% khối lượng. Nước nhập khẩu thanh long lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ, tiếp theo là Nhật Bản và Hàn Quốc.

Với xoài, sau thời gian thăm dò thị trường Hàn Quốc cho thấy những tín hiệu khả quan. Chỉ trong hai tháng đầu năm 2015, các doanh nghiệp đã xuất khẩu 46,8 tấn xoài vào Hàn Quốc, xấp xỉ bằng khối lượng của cả năm 2014.

Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), các doanh nghiệp ở phía Nam đang làm việc với các đối tác tại Bắc Giang để chuẩn bị xuất khẩu trái vải tươi sang thị trường Hoa Kỳ trong vụ vải năm nay, sau khi Hoa Kỳ cho phép nhập quả vải Việt Nam. Một số doanh nghiệp đang lựa chọn vùng vải đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, đồng thời cũng hợp tác với các cơ quan nghiên cứu tìm biện pháp bảo quản và vận chuyển trái vải tốt nhất.

Cục Bảo vệ thực vật đang giám sát và đánh giá trước khi cấp mã số vùng trồng nhãn và vải ở phía Bắc để xuất khẩu vào Hoa Kỳ. Hiện phía Bắc chưa có nhà máy đóng gói trái cây được phía Hoa Kỳ cấp chứng nhận cũng như không có nhà máy chiếu xạ. Do đó sau khi thu hoạch, quả vải được vận chuyển vào phía Nam để đóng gói và chiếu xạ trước khi xuất khẩu.

Rau quả Việt Nam hoàn toàn có tiềm năng trở thành mặt hàng xuất khẩu giá trị cao khi New Zealand đã cho phép nhập khẩu thanh long của Việt Nam và đang xem xét mở cửa cho xoài Việt Nam. Hàn Quốc tiếp tục đồng ý nhập khẩu vú sữa, Australia nhập khẩu xoài, thanh long. Hoa Kỳ cho phép nhập khẩu nhãn, vải, táo, xoài của Việt Nam.

Ngoài ra, bưởi da xanh Việt Nam cũng được nhiều bạn hàng để mắt tới, mới đây một lô hàng xuất thành công sang Đức. Các doanh nghiệp tại Séc, Hà Lan, Australia, Canada đã đặt hàng với số lượng lớn.

Các thị trường đạt mức tăng trưởng cao về kim ngạch trong 2 tháng đầu năm nay đó là: Hàn Quốc tăng 110%, đạt 9,74 triệu USD; Hồng Kông tăng 228,56%, đạt 3 triệu USD; Cô Oét tăng 129,24%, đạt 803.953 USD.

Số liệu của TCHQ về xuất khẩu rau quả 2 tháng đầu năm 2015. ĐVT: USD

 

Thị trường

 

2T/2015

 

2T/2014

2T/2015 so với cùng kỳ(%)

Tổng kim ngạch

       204.824.634

       174.062.218

+17,67

Trung Quốc

          83.107.559

          60.121.869

+38,23

Hàn Quốc

            9.743.024

            4.637.306

+110,10

Nhật Bản

            9.480.400

            8.618.217

+10,00

Hoa Kỳ

            8.289.910

            8.784.598

-5,63

Thái Lan

            6.989.145

            7.196.998

-2,89

Malaysia

            5.598.846

            4.871.712

+14,93

Hà Lan

            4.394.937

            5.123.528

-14,22

Đài Loan

            4.220.643

            3.458.782

+22,03

Singapore

            3.933.915

            4.170.991

-5,68

Hồng Kông

            2.991.203

               910.389

+228,56

Nga

            2.969.221

            5.341.355

-44,41

Australia

            2.647.394

            3.473.090

-23,77

Canada

            2.496.144

            3.058.124

-18,38

Đức

            1.883.975

            1.934.613

-2,62

Pháp

            1.393.176

            1.599.413

-12,89

Lào

            1.336.151

            1.965.685

-32,03

U.A.E

            1.323.337

            2.416.795

-45,24

Anh

            1.031.903

               812.324

+27,03

Cô Oét

               803.953

               350.706

+129,24

Indonesia

               414.354

            4.012.294

-89,67

Italia

               231.287

               400.219

-42,21

Campuchia

               215.359

               584.902

-63,18

Ucraina

                 72.555

               279.738

-74,06

 Thủy Chung

Nguồn: Vinanet