(Vinanet) Tháng 6-2013, cả nước xuất khẩu 1,4 triệu tấn than đá, tăng nhẹ 2,8% nhưng trị giá đạt 91,69 triệu USD, giảm 13,44% so với tháng 5. Như vậy, trong 6 tháng năm 2013, tổng lượng than xuất khẩu của cả nước là 7,72 triệu tấn, tăng 6,3% nhưng đơn giá xuất khẩu bình quân giảm 20% nên kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 650 triệu USD, giảm 16,24% so với cùng kỳ năm 2012.

Trong 3 thị trường xuất khẩu lớn của than Việt Nam là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, thì chỉ có thị trường Trung Quốc đạt mức tăng trưởng dương 19,31% về kim ngạch trong tháng 6; còn lại thị trường Nhật và Hàn Quốc đều bị sụt giảm mạnh so với tháng 5, với mức giảm tương ứng 60,32% và 39,21% về kim ngạch;

Tính chung cả 6 tháng đầu năm, xuất khẩu than sang cả 3 thị trường chính đều sụt giảm so với cùng kỳ. Cụ thể: xuất sang Trung Quốc giảm 12,51%, đạt 367,11 triệu USD; Nhật Bản giảm 11,85%, đạt 81,51 triệu USD; Hàn Quốc giảm 24,15%, đạt 45,76 triệu USD.     

Thị trường xuất khẩu than 6 tháng đầu năm 2013

ĐVT: USD

Thị trường

T6/2013

T5/2013

T6/2013 so với T5/2013(%)

6T/2012

6T/2013

6T/2013 so với cùng kỳ (%)

Tổng kim ngạch

91.685.902

105.927.498

-13,44

649.908.855

544.350.645

-16,24

Trung quốc

64.894.718

54.389.441

+19,31

419.618.464

367.108.960

-12,51

Nhật Bản

11.470.162

28.903.994

-60,32

92.473.975

81.513.715

-11,85

Hàn Quốc

9.238.429

15.198.310

-39,21

60.330.073

45.758.354

-24,15

Malaysia

1.343.240

1.219.751

+10,12

9.731.456

12.915.092

+32,71

Philippines

0

0

*

14.362.630

12.326.804

-14,17

Thái Lan

1.773.257

1.027.500

+72,58

12.310.940

5.546.789

-54,94

Lào

714.221

1.468.045

-51,35

6.296.901

4.513.607

-28,32

Ấn Độ

0

2.243.728

*

19.255.405

3.569.507

-81,46

Đài Loan

1.020.250

1.228.249

-16,93

1.940.644

2.333.011

+20,22

Indonesia

0

248.479

*

5.867.343

2.323.169

-60,41

Australia

0

0

*

1.663.200

1.361.100

-18,16

Hà Lan

1.231.625

 

*

361.224

1.231.625

+240,96

Tăng thuế xuất khẩu than từ ngày 7/7/2013: Theo Thông tư số 71/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính, từ ngày 7-7, thuế suất thuế xuất khẩu một số chủng loại than như than đá, than bánh, than cốc và than nửa cốc (luyện từ than đá), than non hoặc than bùn,... sẽ tăng từ 10% lên mức 13%. Mức thuế suất này sẽ khiến nhiều chủng loại than phải dừng xuất khẩu, dẫn tới lượng than tiêu thụ có nguy cơ giảm mạnh. So sánh với các nước xuất khẩu than, mức thuế xuất khẩu than ở nước ta đang ở trong nhóm cao nhất thế giới. Vinacomin cho biết, do thị trường còn khó khăn, nếu giữ thuế xuất khẩu ở mức 10%, sản lượng than tiêu thụ cả năm có thể đạt được 41,5 đến 43 triệu tấn. Nhưng thuế tăng lên 13%, trong điều kiện hiện nay, giá bán vẫn thấp, dự kiến mức xuất khẩu chỉ đạt khoảng 400 nghìn đến 500 nghìn tấn/tháng, bằng một phần ba so lượng xuất khẩu thời gian qua. Từ nay đến cuối năm, lượng than xuất khẩu có thể chỉ đạt 2 đến 3 triệu tấn, sản lượng than xuất khẩu cả năm chỉ ở mức 10,5 triệu tấn, giảm khoảng 4 đến 5 triệu tấn so năm trước.

Dừng xuất khẩu nhiều loại than từ năm 2015 : Từ năm 2015 trở đi Việt Nam sẽ dừng xuất khẩu các loại than cám 4, 5, 6 (cỡ hạt nhỏ hơn hoặc bằng 15 mm) tại một số mỏ than phía Bắc. Cụ thể, theo Thông tư quy định về xuất khẩu than do Bộ Công Thương ban hành có hiệu lực từ ngày 18-7-2013 , trước mắt đối với loại than cám 6 tại các mỏ Hòn Gai-Cẩm Phả, Mạo Khê, Uông Bí - Nam Mẫu - Vàng Danh sẽ dừng xuất khẩu từ năm 2015, còn các loại than cám 4, cám 5 tại các mỏ nói trên cũng sẽ dừng xuất khẩu từ năm 2016 trở đi.

Trong khi đó, việc xuất khẩu than cám 1, cám 2, cám 3 tại các mỏ Hòn Gai-Cẩm Phả, Uông Bí - Nam Mẫu - Vàng Danh  cũng sẽ bị hạn chế từ sau năm 2015.

Thông tư của Bộ Công Thương cũng nêu đối với than cục tại các mỏ nói trên các loại cỡ hạt 6-100 mm, 15-100 mm và 6-90 mm cũng sẽ hạn chế xuất khẩu từ sau năm 2015.