(VINANET) Xuất khẩu gạo tháng 3/2014 tăng mạnh trên 48% về lượng và trên 44% về kim ngạch so với tháng 2/2014, nhưng tính chung cả Quí I/2014 xuất khẩu gạo vẫn giảm so với cùng kỳ năm ngoái. Quí I, cả nước đã xuất khẩu được 1,42 triệu tấn gạo các loại, trị giá 652,46 triệu USD, đơn giá FOB bình quân là 434,67 USD/tấn. So với cùng kỳ năm 2013, về số lượng giảm 9,93%, trị giá giảm 6,5% và giá bình quân giảm 7,77 USD/tấn.

Nguyên nhân chính làm cho xuất khẩu giảm do tồn kho thấp, chưa đến vụ thu hoạch chính nên nguồn cung hạn chế, giá trong nước cao, thiếu cạnh tranh trong khi giá thị trường thế giới sụt giảm. Ngoài ra, số lượng hợp đồng thương mại năm 2013 chuyển sang bị hủy nhiều do biến động giá sụt giảm.

Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ nhiều gạo nhất của Việt Nam; riêng tháng 3 xuất sang Trung Quốc tăng mạnh trên 160% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 2; nhưng tính chung cả quí I, thì xuất sang thị trường này lại sụt giảm gần 18% về lượng và 14% về kim ngạch so cùng kỳ (đạt 581.426 tấn, tương đương 250,37 triệu USD, chiếm 41% về lượng và chiếm trên 38% về tổng kim ngạch gạo của cả nước).

Điều đặc biệt chú ý là thị trường Philippines – thị trường tiêu thụ gạo lớn thứ 2 của Việt Nam trong tháng 3 lại giảm mạnh nhập khẩu gạo, sụt giảm tới trên 90% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 2; nhưng tính chung cả 3 tháng đầu năm, xuất khẩu gạo sang thị trường này lại đạt mức tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ (tăng 475% về lượng, đạt 379.450 tấn; tăng 537% về kim ngạch, đạt 175,34 triệu USD), do có hợp đồng tập trung từ cuối năm 2013 chuyển sang. Thị trường này chiếm gần 27% cả về kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam.

Tiếp sau 2 thị trường lớn là Trung Quốc và Philippines, còn có 5 thị trường đạt kim ngạch trên 10 triệu USD trong quí I như: Gana 31,32 triệu USD; Singapore 24,74 triệu USD; Hồng Kông 23,06 triệu USD; Malaysia 14,94 triệu USD; Đông Timo 13,92 triệu USD.

Về chất lượng gạo xuất khẩu trong quý I/2014 chủ yếu là gạo 25% tấm giao hàng đi Philippines chiếm 31,9% và tăng 2,84%; kế tiếp là loại gạo 15% tấm, phần lớn giao hàng đi Trung Quốc chiếm gần 23,4% và giảm 38%; gạo thơm chiếm gần 19% và tăng 27,7%, phần lớn là giao hàng đi Trung Quốc và châu Phi; gạo 5% tấm chiếm trên 17% và giảm 57%. Riêng nếp cũng chiếm tỷ trọng tương đối gần 7%, nhưng giảm 6,5% so với cùng kỳ 2013.

Về giá gạo xuất khẩu giao dịch trong quý I/2014: ổn định trong tháng 01 và đầu tháng 02/2014, loại 5% tấm ở mức giá 405 – 410 USD/tấn, sau đó giảm dần đến cuối tháng 3/2014 xuống mức giá 390 USD/tấn. Chủ yếu do cung cấp hạn chế và giá thị trường nội địa cao vào đầu quý I, từ cuối tháng 02 vào thu hoạch vụ Đông Xuân nên giá giảm dần nhưng vẫn còn ổn định do thực hiện mua tạm trữ.

Về hợp đồng xuất khẩu đăng ký trong tháng 3/2014 tăng mạnh, nhưng lũy kế quý I vẫn thấp hơn 5,1% so với cùng kỳ năm 2013 do đăng ký hợp đồng xuất khẩu gạo trong tháng 01 và 02 thấp, ngoài ra, số lượng hợp đồng trong năm 2013 chuyển sang cũng đã bị hủy nhiều. Đăng ký hợp đồng xuất khẩu gạo trong quý I/2014 chủ yếu là thị trường Trung Quốc, châu Phi và Cuba.

Giá lúa gạo trong nước ổn định ở mức cao trong 2 tháng đầu năm, đến đầu tháng 3/2014 giá có giảm do vào vụ thu hoạch vụ Đông Xuân, nhưng có tăng lại sau khi các doanh nghiệp triển khai mua tạm trữ. Giá lúa tăng khoảng 300 đồng/kg vào cuối tháng 3/2014 nhưng sang đầu tháng 4 giảm lại khoảng 200 đồng/kg khi nhu cầu gạo đi biên giới phía Bắc giảm  mạnh do các tỉnh đặt trạm cân xe tải và chi phí vận chuyển tăng cao.

Các chuyên gia xuất khẩu gạo cho biết, nhiều khả năng xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ sôi động trở lại từ quý II. Thông tin Việt Nam trúng thầu cung cấp 800.000 tấn gạo cho Philippines đầu tháng 4/2014 ngay lập tức đã tạo ra những hiệu ứng kích thích thị trường với việc giá lúa, gạo tăng theo hướng có lợi cho nông dân.

Theo quy luật, xuất khẩu gạo sẽ tăng trưởng trở lại kể từ quý II trở đi. Thông thường mỗi năm, vào quý II, lượng gạo xuất khẩu sẽ đạt khoảng 2- 2,4 triệu tấn, đưa lượng gạo xuất khẩu 6 tháng đầu năm khoảng 3,5 triệu tấn.

Trong khi đó, mặc dù lượng gạo xuất khẩu sang Trung Quốc- thị trường gạo số 1 của Việt Nam- trong quý I giảm, song các chuyên gia nhận định, thị trường này sẽ sớm sôi động trở lại. Theo các chuyên gia, sự sụt giảm này chỉ mang tính tạm thời bởi những tháng đầu năm, nguồn cung trong nước nhiều, doanh nghiệp kéo giá xuống để tranh thủ bán ra. Trong khi đó, các nhà nhập khẩu Trung Quốc tỏ ra đủng đỉnh, chưa nóng vội mua vào.

Với việc Việt Nam giành được hợp đồng xuất khẩu 800.000 tấn gạo cho Philippines, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh nhập khẩu gạo của Việt Nam bởi nguồn cung trong nước sẽ giảm đáng kể, trong khi gạo Việt Nam vẫn là ưu tiên lựa chọn của Trung Quốc. Theo phân tích của một số nhà chuyên môn, yếu tố vị trí địa lý là điều rất quan trọng khiến nguồn cung của Việt Nam có giá cạnh tranh (phí vận chuyển rẻ hơn Thái Lan khoảng 10 USD/tấn).

Với ưu thế không bị cạnh tranh bởi Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan, lượng gạo trong nước chẳng còn nhiều khi phần lớn được sử dụng để cung cấp cho hợp đồng 800.000 tấn ở Philippines, nhà nhập khẩu Trung Quốc sẽ lại nhanh chân mua vào. Các doanh nghiệp cần tỉnh táo và bám sát những diễn biến của thị trường.

Số liệu Hải quan xuất khẩu gạo 3 tháng đầu năm

 

Thị trường

T3/2014

3T/2014

T3/2014 so T2/2014(%)

Quí I/2014 so cùng kỳ(%)

Lượng

(tấn)

Trị giá

(USD)

Lượng

(tấn)

Trị giá

(USD)

Lượng

 

Trị giá

 

Lượng

 

Trị giá

 

Tổng cộng

       631.030

       283.631.576

       1.417.392

       652.456.320

+48,03

+44,16

-9,93

-6,50

Trung Quốc

         378.259

          162.809.646

            581.426

          250.367.404

+162,65

+163,64

-17,92

-13,88

Philippines

            1.060

                488.451

            379.450

          175.339.824

-99,39

-99,40

+474,57

+537,11

Gana

           32.486

            17.297.737

              57.814

            31.316.491

+99,33

+105,79

+70,69

+82,12

Singapore

           28.565

            12.518.877

              52.647

            24.737.096

+98,53

+81,37

-39,16

-37,84

Hồng Kông

           15.864

              8.987.173

              38.436

            23.059.252

+38,80

+27,32

-38,58

-29,46

Malaysia

           10.511

              5.920.248

              25.407

            14.942.710

+63,24

+55,88

-47,58

-47,13

Đông Timo

           18.500

              7.112.939

              35.800

            13.916.208

+48,89

+47,12

+88,20

+87,20

Hoa Kỳ

            3.981

              2.421.889

                8.751

              5.643.884

+96,79

+72,69

-52,25

-38,46

Nga

           10.033

              4.480.209

              12.280

              5.550.767

+3126,05

+2853,16

-8,52

-7,15

Đài Loan

            4.989

              2.941.061

                7.930

              4.743.839

+248,15

+227,72

-59,55

-46,21

Tiểu vương Quốc Ả Rập thống nhất

            2.539

              1.583.030

                5.635

              3.607.214

+83,32

+79,70

+137,06

+117,93

Nam Phi

            4.845

              2.037.785

                8.159

              3.443.508

+340,86

+329,24

-22,08

-28,88

Brunei

            1.401

                817.643

                2.882

              1.761.636

+91,92

+79,98

+36,59

+44,63

Algieri

            3.214

              1.304.388

                3.758

              1.525.151

+490,81

+490,85

-87,59

-88,44

Bờ biển Ngà

            1.744

                944.982

                1.837

              1.011.806

*

*

-92,77

-92,01

Australia

               501

                347.420

                1.397

                973.876

+4,38

+4,42

-7,24

-4,97

Thổ Nhĩ Kỳ

               848

                418.300

                1.774

                901.534

+53,90

+54,72

+24,93

+25,42

Pháp

            1.319

                770.440

                1.387

                830.374

+2897,73

+1611,21

+193,86

+191,08

Ucraina

            1.442

                666.830

                1.699

                799.928

+508,44

+471,32

-43,39

-40,73

Hà Lan

               780

                405.603

                1.490

                763.508

+22,83

+28,65

-72,05

-67,46

Indonesia

                 -  

                        -  

                1.400

                721.000

*

*

-97,48

-97,90

Angola

               576

                317.525

                1.137

                623.786

+357,14

+290,70

-98,30

-97,71

Bỉ

               490

                235.200

                1.143

                585.194

-20,33

-29,04

-85,71

-79,35

Chi Lê

            1.375

                556.375

                1.400

                570.500

*

*

-68,04

-68,57

Senegal

               407

                308.533

                  407

                308.533

*

*

-87,57

-82,52

Ba Lan

                 46

                  31.471

                  410

                234.671

*

*

-36,34

-26,60

Tây BanNha

               118

                  63.658

                  313

                203.626

29,76

49,11

+63,02

+113,44

Italia

               223

                104.107

                  223

                104.107

*

*

-66,31

-66,42

Thủy Chung

Nguồn: Vinanet