(Vinanet) Tháng 6/2913 xuất khẩu gạo sụt giảm trở lại, với mức giảm 8,71% về lượng và giảm 11,5% về kim ngạch so với tháng 5; cộng chung cả 6 tháng đầu năm, lượng gạo xuất khẩu giảm 6,2%, đạt 3,58 triệu tấn; kim ngạch giảm 9,59%, đạt 1,58 tỷ USD.

Xuất khẩu gạo trong tháng 6 bị sụt giảm ở hầu hết các thị trường. Trong đó, xuất sang Trung Quốc – thị trường lớn nhất cũng bị giảm gần 29% cả về lượng và kim ngạch so với tháng trước (đạt 162.528 tấn, trị giá 65,46 triệu USD), nhưng tính chung cả 6 tháng đầu năm xuất khẩu gạo sang thị trường này vẫn tăng 20% về lượng và tăng 16,75% về kim ngạch.

Thị trường Philippines sau đợt tăng mạnh gấp 15 – 16 lần cả về lượng và kim ngạch trong tháng 5, thì sang tháng 6 lại sụt giảm mạnh trên 40% cả về lượng và kim ngạch. Cộng dồn cả 6 tháng kim ngạch xuất khẩu sang Philippines cũng sụt giảm 44,53% về lượng và giảm 42,26% về kim ngạch (đạt 293.791 tấn, trị giá 131,51 triệu USD).

Riêng xuất khẩu sang Bờ biển Ngà tháng 6 có sự tăng trưởng đột biến trên 200% so với tháng 5 (tháng 5 sụt giảm mạnh trên 60% về lượng và giảm trên 50% về kim ngạch). Tính chung cả 6 tháng xuất khẩu sang thị trường này vẫn giảm nhẹ 0,72% về lượng và 2,13% so với cùng kỳ (đạt 210.657 tấn, trị giá 89,03 triệu USD).    

Nhìn chung trong 6 tháng đầu năm, thị trường xuất khẩu gạo diễn biến phức tạp và có sự thay đổi rõ nét. Thị trường truyền thống với các hợp đồng tập trung giảm mạnh và được thay thế bằng các hợp đồng thương mại từ các thị trường khác. Hiện châu Á vẫn chiếm thị phần lớn nhất 61,95%, giảm 6,60 %; kế đến là châu Phi chiếm 23,74% tăng 1,32%. Tiếp theo là các thị trường châu Mỹ, châu Âu và các thị trường khác.

Xuất khẩu gạo sang các thị trường 6 tháng đầu năm 2013

 

 

Thị trường

T6/2013

T6/2013 so với T5/2013

6T/2013

6T/2013 so với 6T/2012

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

Lượng (%)

Trị giá (%)

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

Lượng (%)

Trị giá (%)

Tổng cộng

643.256

277.135.274

-8,71

-11,50

3.583.196

1.582.262.108

-6,20

-9,59

Trung Quốc

162.528

65.464.959

-28,32

-28,89

1.293.885

536.463.059

+20,02

+16,75

Philippines

82.225

37.140.920

-40,92

-41,96

293.791

131.508.125

-44,53

-42,26

Malaysia

35.064

18.307.802

-26,49

-25,82

195.285

103.395.485

-40,48

-41,19

Bờ biển Ngà

92.586

38.489.794

+255,09

+217,81

210.657

89.029.968

-0,72

-2,13

Singapore

22.766

10.344.677

-7,95

-13,57

168.943

77.107.713

+48,91

+37,02

Gana

61.653

27.968.441

+74,87

+70,04

162.402

76.667.326

+12,97

+11,59

Hồng Kông

13.429

8.046.394

-9,52

-7,79

104.523

57.995.924

+30,84

+22,73

Indonesia

4.698

1.948.062

-24,13

-39,88

78.991

45.405.897

-73,28

-71,34

Angola

10.620

4.162.913

-36,24

-36,91

94.187

38.251.832

+43,35

+30,46

Angieri

8.115

3.255.970

+43,12

+31,00

54.864

23.570.077

-0,03

-6,41

Nga

11.703

5.155.026

+63,59

+56,46

39.830

17.998.084

+659,53

+612,75

Hoa Kỳ

3.870

2.108.196

-1,12

-5,51

30.007

15.811.220

+163,17

+122,44

Đông Timo

3.225

1.236.563

-77,09

-76,75

39.947

15.421.453

+78,30

+60,14

Đài Loan

2.798

1.456.687

-60,94

-63,36

31.378

15.229.290

-53,99

-51,52

Senegal

500

231.500

-95,11

-93,97

37.134

13.817.102

-75,95

-75,34

Nam Phi

5.450

2.433.675

+142,22

+147,86

18.971

8.613.449

+24,68

+19,04

Bỉ

3.003

1.288.622

-34,30

-25,66

21.526

8.020.279

+19,05

+8,81

Chi Lê

4.767

1.880.754

+4,54

-2,14

14.757

6.056.573

+676,68

+614,01

Hà Lan

2.466

1.069.939

-32,66

-30,17

13.644

5.828.851

+561,69

+373,43

Tiểu vương Quốc Ả Rập thống nhất

1.343

831.494

-13,91

-19,40

6.565

4.324.373

+49,95

+64,40

Ucraina

2.838

1.183.183

+37,10

+42,59

8.732

3.714.035

+341,90

+246,42

Brunei

1.380

708.850

0,00

-2,79

6.900

3.705.150

+3,17

-3,02

Australia

880

569.906

+39,02

+42,06

3.350

2.235.504

+52,41

+40,14

Thổ Nhĩ Kỳ

575

292.675

-46,51

-42,40

4.013

1.895.525

+150,81

+176,29

Ba Lan

1.008

403.200

+27,27

+32,23

2.640

1.103.680

+227,95

+128,24

Pháp

342

182.310

+627,66

+287,61

1.534

876.281

+61,30

+30,21

Tây BanNha

723

299.390

+175,95

+155,81

1.276

559.910

+20,83

-6,64

Italia

150

66.450

-14,29

-16,94

987

468.708

+19,64

+3,25

Giá gạo xuất khẩu đã giảm liên tục trong 6 tháng đầu năm 2013, từ mức 410 USD/tấn loại 5% tấm vào đầu tháng 1 xuống còn 365 USD/ tấn hiện nay. Đặc biệt, giá gạo của Việt Nam đã tách ra khỏi mặt bằng giá gạo thế giới và trở thành nguồn cung cấp rẻ nhất. Nhưng từ đầu tháng 7 đến nay, giá gạo trắng xuất khẩu các loại không những đã ngưng suy giảm mà còn tăng nhanh trở lại. Trong đó, ấn tượng nhất là gạo chất lượng cao. Đến ngày 16/7, giá gạo 5% tấm đã tăng lên tới mức 385-395 USD/tấn, cao hơn hồi cuối tháng 6 tới 25 USD/tấn. Sở dĩ giá gạo chất lượng cao tăng nhanh trở lại, là nhờ các khách hàng từ Trung Quốc và châu Phi đã quay trở lại hỏi mua gạo Việt Nam và chủ yếu hỏi mua gạo chất lượng cao, khi mà giá gạo cùng loại của Thái Lan vẫn đang ở mức khá cao.

Giá tăng mạnh nhất trong thời gian qua lại là gạo thơm. Hồi tháng 6, giá gạo thơm Việt Nam đã giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều năm qua, và xuống dưới mốc 500 USD/tấn, khi chỉ còn được chào mua ở mức 475-485 USD/tấn vào ngày 21/6. Mức giá này chỉ cao hơn 1 chút so với gạo… 5% tấm của Pakistan (giá ngày 21/6 là 455-465 USD/tấn) và chỉ ngang với gạo 5% tấm của Thái Lan cũng trong ngày hôm ấy. Nhưng chỉ ít ngày sau đó, gạo thơm Việt Nam bắt đầu tăng giá trở lại. Đến cuối tháng 6, đã vượt lên trên mốc 500 USD/tấn để đứng ở mức 515-525 USD/tấn. Sang tháng 7, giá gạo thơm tiếp tục tăng lên và hiện đã ở mức 540-550 USD/tấn.

Trước áp lực nguồn cung dồi dào từ Thái Lan, Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) cho biết sẽ hạ mục tiêu xuất khẩu gạo năm 2013 từ 8 triệu tấn xuống còn 7,5 triệu tấn;trong đó, quý 3 dự kiến xuất khẩu 2,2 triệu tấn, quý 4 xuất 1,8 triệu tấn.