(VINANET)- Số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam cho thấy, trong quí I/2014, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Thổ Nhĩ Kỳ đạt 298,83 triệu USD, tăng 36,62% so với cùng kỳ năm trước.

Xét cơ cấu hàng xuất khẩu, mặt hàng điện thoại và linh kiện có giá trị kim ngạch cao nhất với 140,5 triệu USD, tăng 117,01%; đứng thứ hai là mặt hàng xơ, sợi dệt đạt 55,9 triệu USD, giảm 19,98%; tiếp đến là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 17,10 triệu USD, tăng 64,31%.

Như vậy, trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ quý I/2014, có 4 mặt hàng giảm, trong đó giảm mạnh nhất là xơ, sợi dệt, 6 mặt hàng còn lại đều có mức tăng trưởng tốt, trong đó điện thoại và linh kiện có mức tăng cao nhất.

Đáng chú ý, sản phẩm điện thoại và linh kiện đã vượt qua hàng xơ, sợi dệt vươn lên vị trí đứng đầu về giá trị trong xuất khẩu của Việt Nam sang Thổ Nhĩ Kỳ, đóng góp tích cực cho tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nói riêng và tổng kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ trong 3 tháng đầu năm 2014.

Hiện có khá nhiều đoàn doanh nghiệp trong ngành thép của cả Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ đang nỗ lực tìm kiếm cơ hội hợp tác trong lĩnh vực sản xuất và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực sản xuất thép xây dựng và thép chế tạo chất lượng cao phục vụ nhu nội địa và xuất khẩu.

Thổ Nhĩ Kỳ có vị trí chiến lược quan trọng trong chính trị và phát triển kinh tế, thương mại của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Ngoài việc việc xuất khẩu vào thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, hàng hóa Việt Nam còn có thể thâm nhập thuận lợi hơn vào các nước châu Âu, Trung Đông cũng như Bắc Phi.

Hiện Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ đã ký Hiệp định hợp tác thương mại, kinh tế và kỹ thuật; Nghị định thư về hợp tác kinh tế và thương mại; Nghị định thư về hợp tác nông nghiệp; thành lập Ủy ban hỗn hợp kinh tế, thương mại; Thỏa thuận thành lập Hội đồng doanh nghiệp Việt Nam- Thổ Nhĩ Kỳ; đang hoàn tất đàm phán và các thủ tục pháp lý nội bộ để tiến tới ký Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư, Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần, Hiệp định về Hợp tác hàng không; Thổ Nhĩ Kỳ đã mở đường bay đến Việt Nam. Đây là các cơ sở pháp lý quan trọng nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước.

Với tiềm năng sẵn có, cộng đồng doanh nghiệp hai nước đang cơ nhiều cơ hội để tăng cường trao đổi thương mại phục vụ nhu cầu sản xuất và xuất khẩu của mỗi nước, góp phần củng cố quan hệ kinh tế thương mại trên cơ sở cân bằng hơn.

Số liệu của Tổng cục hải quan về xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ 3 tháng đầu năm 2014

 Mặt hàng
3Tháng/2013 
3Tháng/2014

Tăng/giảm so với năm trước (%)

 
Lượng (tấn)
Trị giá (USD)
Lượng (tấn)
Trị giá (USD)
 Lượng
Trị giá 
Tổng
 
218.725.488
 
298.830.625
 
+36,62

Điện thoại các loại và linh kiện

 
64.745.554
 
140.503.031
 
+117,01
Xơ, sợi dệt các loại
27.866
69.672.195
23.439
55.877.468
-15.89
-19,8

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

 
10.413.230
 
17.109.631
 
+64,31
Hàng dệt may
 
16.269.708
 
13.309.986
 
-18,19

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

 
4.709.736
 
8625992
 
+83,15
Cao su
3.579
9.728.083
4.033
8.344.530
+12,69
-14,22
Gỗ và sản phẩm gỗ
 
4.297.848
 
5.718.685
 
+33,06
Sắt thép các loại
1.195
2.443.218
4.739
4.006.678
+296,57
+63,99
Giày dép các loại
 
3.252.124
 
3.732.500
 
+14,77
Chất dẻo nguyên liệu
2.147
3.946.887
2.018
3.544.330
-6,01
-10,2
Hạt tiêu
327
1.624.813
489
2.622.037
+49,54
+61,37

Phương tiện vận tải và phụ tùng

 
 
 
2.551.495
 
 
Sản phẩm từ chất dẻo
 
2.400.023
 
2.150.174
 
-10,41
Hàng thủy sản
 
844.727
 
1.285.184
 
+52,14

Nguyên phụ liệu dệt , may, da giày

 
1.946.677
 
1.201.260
 
-38,29
Gạo
1.420
718.800
1774
901.534
+24,93
+25,42
Sản phẩm từ cao su
 
1.413.107
 
526.619
 
-62,73
Chè
336
651.184
191
423.055
-43,15
-35,03
 
T.Nga

Nguồn: Vinanet