(VINANET) Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất thế giới, hiện nay, hạt tiêu Việt Nam đã xuất khẩu tới hơn 80 quốc gia. Hạt tiêu Việt Nam được xếp vào nhóm các mặt hàng có vị thế cao trên thị trường thế giới, luôn giữ vững kỷ lục sản xuất và xuất khẩu trong 14 năm liền. Tháng đầu năm xuất khẩu hạt tiêu của cả nước đạt 99,37 triệu USD, tăng 44,4% so với tháng đầu năm ngoái.

Hoa Kỳ, Singapore, UAE, Ấn Độ, Hà Lan là 5 thị trường chính của hạt tiêu Việt Nam, chiếm đến 50% tổng xuất khẩu của mặt hàng này. Hạt tiêu Việt Nam, đặc biệt là hạt tiêu đen đang ngày càng được ưa chuộng ở hầu hết các thị trường. Hiện nay, sản lượng hạt tiêu của Việt Nam chiếm khoảng 30% sản lượng và khoảng 50% khối lượng tiêu xuất khẩu trên thế giới.

Giữa lúc nhiều loại hàng hóa trên toàn cầu đồng loạt rớt giá, thì hạt tiêu của Việt Nam lại đang được giá. Mức giá trung bình của hạt tiêu năm 2014 đạt trên 7.600 USD/tấn, tăng 14,76% so với cùng kỳ năm 2013. Trong tháng 1/2015 giá tiêu xuất khẩu bình quân đạt 9.470 USD/tấn, tăng 40,95% so với cùng kỳ năm 2014. Xuất khẩu tiêu sang thị trường Singapore, Hòa Kỳ và Ấn Độ - 3 thị trường lớn nhất của Việt Nam trong tháng 1 năm 2015 chiếm 49,41% thị phần.

Khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 2/2015 ước đạt 11 nghìn tấn, với giá trị đạt 100 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 2 tháng đầu năm 2015 lên 22 nghìn tấn với giá trị 199 triệu USD, giảm 8,7% về khối lượng nhưng tăng 24,0% về giá trị.

Trong tháng đầu tiên của năm 2015, Hoa Kỳ và Singapore vẫn là 2 thị trường lớn tiêu thụ nhiều nhất hạt tiêu của Việt Nam; xuất sang Hoa Kỳ đạt 22,43 triệu USD, chiếm 22,57% trong tổng kim ngạch, tăng 131,91% so với cùng kỳ năm ngoái; xuất sang Singapore đạt 19,86 triệu USD, chiếm 20%, tăng 12,14%; tiếp sau đó là xuất sang Ấn Độ đạt 6,8 triệu USD, sang Hà Lan 5,95 triệu USD, U.A.E 4,92 triệu USD.  

Xuất khẩu hạt tiêu tháng đầu năm sang hầu hết các thị trường đều đạt mức tăng trưởng dương về kim ngạch so với tháng 1/2014; trong đó đáng kể nhất là xuất sang thị trường U.A.E tăng rất mạnh tới 508,76%, đạt 4,92 triệu USD; bên cạnh đó là một số thị trường cũng đạt mức tăng trên 100% như: Hoa Kỳ tăng 131,9%, đạt 22,43 triệu USD; Đức tăng 131,35%, đạt 2,64 triệu USD; Thổ Nhĩ Kỳ tăng 138,14%, đạt 1,98 triệu USD; Nam Phi tăng 171,29%, đạt 1,65 triệu USD.

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam -VPA, thời gian tới, ngành tiêu chủ trương không tăng số lượng mà củng cố nâng cao chất lượng, khuyến khích các DN đầu tư cho chế biến sâu, chế biến sạch, đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa thị trường nhằm thâm nhập sâu vào chuỗi cung ứng hạt tiêu toàn cầu. Ông Đỗ Hà Nam cho rằng, việc tập trung xây dựng các DN mạnh để dẫn dắt thị trường là chiến lược cần thiết nhằm đưa ngành hạt tiêu Việt Nam phát triển bền vững.

Số liệu của TCHQ về xuất khẩu hạt tiêu tháng 1/2015. ĐVT: USD

 

Thị trường

 

T1/2015

 

T1/2014

T1/2015 so với T1/2014(%)

Tổng kim ngạch

      99.365.328

      68.813.184

+44,40

Hoa Kỳ

      22.431.105

        9.672.164

+131,91

Singapore

      19.863.819

      17.712.961

+12,14

Ấn Độ

        6.804.693

        4.858.698

+40,05

Hà Lan

        5.952.425

        3.290.853

+80,88

Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất

        4.920.128

           808.223

+508,76

Nhật Bản

        2.692.029

        2.279.303

+18,11

Anh

        2.672.889

        2.128.033

+25,60

Đức

        2.641.483

        1.141.782

+131,35

Ai Cập

        2.086.698

        1.151.820

+81,17

Thái Lan

        2.069.908

        1.037.840

+99,44

Thổ Nhĩ Kỳ

        1.977.325

           830.321

+138,14

Philippines

        1.972.933

        1.058.851

+86,33

Hàn Quốc

        1.666.788

        2.420.214

-31,13

Nam Phi

        1.645.620

           606.582

+171,29

Pháp

        1.389.035

        1.402.729

-0,98

Ba Lan

        1.273.055

           745.095

+70,86

Canada

        1.170.575

           846.686

+38,25

Australia

        1.094.382

           852.550

+28,37

Italia

           873.524

           818.188

+6,76

Malaysia

           864.330

           739.882

+16,82

Tây Ban Nha

           829.264

        1.221.226

-32,10

Bỉ

           417.000

           285.000

+46,32

Pakistan

           416.784

        1.452.797

-71,31

Cô Oét

           399.012

                     -  

*

Nga

           208.673

        1.433.994

-85,45

 Thủy Chung

Nguồn: Vinanet