Là khu vực cửa ngõ nối liền phía Bắc với phần còn lại của Châu Âu, trong nhiều năm qua, Đan Mạch đã thực hiện các chính sách tự do hóa thương mại và mở cửa thị trường, để các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này thuận lợi.

Với mục tiêu mở rộng thị trường cho sản phẩm nông nghiệp, trong những năm qua các dự án thực hiện giữa Việt Nam và Đan Mạch đã phát huy hiệu quả, qua đó đem lại nhiều lợi thế cho hàng nông, thủy sản của Việt Nam khi xuất khẩu qua thị trường Đan Mạch.

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các doanh nghiệp của Đan Mạch đã có nhiều hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Trong đó chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, chiếm khoảng 87% tổng vốn đầu tư của nước này; tiếp theo là lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, chiếm 7% và lĩnh vực dịch vụ chiếm 6% vốn đầu tư.

Các mặt hàng Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Đan Mạch chủ yếu là giầy dép và đồ gỗ, hàng kim khí, thủ công mỹ nghệ, thiết bị điện, cà phê… Tuy nhiên, việc Chính phủ hai nước phối hợp thực hiện Dự án nghiên cứu và xúc tiến kết nối thương mại trong lĩnh vực nông, thủy sản và sản phẩm gia cầm sẽ góp phần thúc đẩy kim ngạch hai bên, đồng thời mở ra cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng nông, thủy sản sang thị trường Đan Mạch.

Theo đó, mục tiêu của dự án là xác định và đánh giá chuỗi giá trị các ngành hàng này ở miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, thông qua việc nghiên cứu và đánh giá trên các đối tượng là cá tra, gia cầm, chè và khoai tây.

Đây có thể coi là cơ hội lớn để hàng nông sản của Việt Nam tạo được chỗ đứng tại thị trường Châu Âu bởi Việt Nam hiện đang là một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về sản xuất chè. Trong khi đó tiềm năng mở rộng diện tích còn rất lớn và tạo được lợi nhuận cũng giá trị gia căng cao cho người nông dân.

Ngoài ra dự án cũng sẽ hỗ trợ cho người chăn nuôi của Việt Nam trong việc xây dựng và quảng bá thương hiệu cá tra, xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến kinh doanh sản phẩm gia cầm. Đồng thời mở rộng nguồn nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi và tăng cường quản lý chất lượng thuốc thú y, vaccine và các chế phẩm sinh học khác… 

Với những mục tiêu trên, có thể thấy vai trò của Đan Mạch đang chuyển từ một nhà tài trợ sang đối tác thương mại với Việt Nam. Cũng trong thời gian tới, Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam cũng cho biết sẽ còn có nhiều doanh nghiệp của Đan Mạch sang Việt Nam để tìm đối tác trong các lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm.

Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Đan Mạch trong 11 tháng năm 2014 đạt 276,50 triệu USD, tăng 15,02% so với cùng kỳ năm trước.

Mặt hàng dẫn đầu về trị giá xuất khẩu vẫn là dệt may là nhóm hàng chiếm tỷ trọng cao nhất trong các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Đan Mạch trong 11 tháng năm 2014, trị giá 77,64 triệu USD, giảm 5,72% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 28% tổng trị giá xuất khẩu.

Những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Đan Mạch có mức tăng trong 11 tháng năm 2014: Gỗ và sản phẩm gỗ tăng 7,9%; sản phẩm từ sắt thép tăng 11,07%; sản phẩm từ chất dẻo tăng 38,57%; xuất khẩu túi xách, ví, vali, mũ và ôdù tăng 34,39%; sản phẩm gốm sứ tăng 8,34%; xuất khẩu sản phẩm mây, tre, cói và thảm tăng 14,5%; trong đó mặt hàng có mức tăng trưởng xuất khẩu mạnh nhất là nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 97,34% so với cùng kỳ năm trước.

Số liệu của Tổng cục hải quan về xuất khẩu sang Đan Mạch 11 tháng đầu năm 2014

Mặt hàng
11Tháng/2013
11Tháng/2014

Tăng giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

 
Lượng (tấn)
Trị giá (USD)

 Trị giá

Tổng
240.399.766
276.507.053
+15,02
Hàng dệt may
82.364.329
77.649.655
-5,72
Giày dép các loại
26.756.643
37.532.590
+40,27
Hàng thủy sản
24.380.459
36.330.857
+49,02
Gỗ và sản phẩm gỗ
14.467.957
15.610.215
+7,9
Sản phẩm từ sắt thép
12.593.339
13.987.827
+11,07

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

6.080.517
11.999.280
+97,34
Sản phẩm từ chất dẻo
8.372.952
11.602.730
+38,57

Phương tiện vận tải và phụ tùng

8.036.327
7.877.413
-1,98

Túi xách, ví, vali, mũ và ôdù

2.667.098
3.584.229
+34,39
Sản phẩm gốm sứ
2.764.794
2.995.250
+8,34
Cà phê
2.759.204
2.847.172
+3,19

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

 
2.486.246
 

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

1.745.285
1.998.390
+14,5
T.Nga

Nguồn: Vinanet