Doanh nghiệp chế biến xuất khẩu là mắt xích quan trọng trong việc đảm bảo hàng hóa xuất khẩu tuân thủ các tiêu chuẩn và yêu cầu của thị trường sở tại.

Tăng cường công tác quản lý chất lượng chế biến xuất khẩu

 Vì lợi ích của bản thân, mỗi doanh nghiệp sẽ phải nỗ lực để đảm bảo hàng hóa xuất khẩu của mình đáp ứng và phù hợp với các tiêu chuẩn và yêu cầu được đưa ra. Tuy nhiên, đặc tính của doanh nghiệp là muốn thu được lợi nhuận tối đa trên cơ sở đáp ứng mức chất lượng tối thiểu mà người tiêu dùng chấp nhận. Vì vậy, cá biệt vẫn có những trường hợp doanh nghiệp vì chạy theo mục tiêu lợi nhuận trước mắt sẵn sàng vượt qua ranh giới được phép. Do đó, trong công tác tăng cường quản lý chất lượng của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu không thể thiếu được vai trò của các cơ quan nhà nước nhằm quản lý, đảm bảo chất lượng trong sản xuất và kinh doanh cũng như đảm bảo các lợi ích lâu dài và giữ uy tín cho hàng xuất khẩu Việt Nam.

Các cơ quan hữu quan như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Y tế và các hiệp hội ngành hàng đẩy mạnh việc tuyên truyền phổ biến và khuyến khích các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu của Việt Nam áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng như HACCP, ISO, SQF, GMP, GAP,...

Các cơ quan có chức năng kiểm soát chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cần tăng cường năng lực kiểm tra kiểm nghiệm để có thể phát hiện sớm những doanh nghiệp không đáp ứng được các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng các chế tài phù hợp với pháp luật để ngăn chặn những doanh nghiệp này tham gia vào hoạt động xuất khẩu những mặt hàng có nguy cơ vi phạm cao.

Đối với một số mặt hàng đang hoặc có khả năng cao là đối tượng theo dõi, giám sát nhập khẩu các cơ quan chức năng Nhật Bản và Hàn Quốc, có thể cân nhắc việc giới hạn số lượng doanh nghiệp xuất khẩu trên cơ sở lựa chọn những doanh nghiệp có hệ thống quản lý chất lượng tốt, có năng lực chế biến xuất khẩu.

Về lâu dài, bên cạnh hoạt động xác nhận và chứng nhận cho từng lô hàng xuất khẩu đủ tiêu chuẩn, hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng đối với hàng xuất khẩu cần tập trung hơn vào công tác đánh giá và công nhận hệ thống quản lý chất lượng của các doanh nghiệp.

Quản lý chất lượng các hộ gia đình và doanh nghiệp nuôi trồng

Bên cạnh công tác quản lý chất lượng của các doanh nghiệp chế biến sản xuất cũng cần chú trọng đến công tác quản lý chất lượng của các hộ gia đình và doanh nghiệp nuôi trồng vì đây chính là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Thực tế các vụ việc vướng mắc liên quan đến vấn đề vệ sinh kiểm dịch của hàng nông thủy sản xuất khẩu cho thấy trong nhiều trường hợp, mặc dù quy trình sản xuất của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu tuân thủ chặt chẽ các quy chuẩn liên quan nhưng hàng hóa vẫn không đạt các tiêu chí về vệ sinh kiểm dịch do ngay từ đầu vào, nguyên liệu đã có dư lượng hóa chất hoặc kháng sinh vượt quá mức độ cho phép. Vì vậy, cần phải kiểm soát ngay từ khâu nuôi trồng và thu hoạch.

Công tác nghiên cứu khoa học về vệ sinh kiểm dịch

Nhìn chung, các thể chế thương mại đa phương và khu vực thừa nhận là việc nước nhập khẩu có quyền áp dụng các biện pháp vệ sinh kiểm dịch ở phạm vi đủ cần thiết để bảo vệ sức khỏe và tính mạng của con người, các loài động vật và thực vật. Vì vậy cũng tồn tại khả năng các biện pháp này bị lạm dụng một cách quá mức cần thiết. Do đó, các kết quả nghiên cứu khoa học trong quá trình đấu tranh chống lại các rào cản thương mại của thị trường, đặc biệt là đối với các quy định liên quan đến lượng tồn dư hóa chất, kháng sinh, chất phụ gia,... có trong sản phẩm xuất khẩu là rất quan trọng.

Tăng cường hợp tác với các cơ quan chức năng

Các biện pháp phi thuế quan của Nhật Bản và Hàn Quốc thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều luật và quy định khác nhau, do nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau quản lý và thực thi. Kinh nghiệm xử lý một số vụ việc có liên quan đến các biện pháp phi thuế quan của hai nước này đã cho thấy mối quan hệ hợp tác với các cơ quan có thẩm quyền này là rất quan trọng trong việc giải quyết các vướng mắc phát sinh, góp phần tạo điều kiện cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam tăng khả năng tiếp cận đối với thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc. Tất nhiên, nguyên tắc cơ bản của giải quyết tranh chấp vẫn là dựa trên luật pháp và quy định, trong đó cơ sở đầu tiên là các quy định của hệ thống thương mại đa phương và cam kết của hai nước trong các điều ước quốc tế song phương và khu vực, sau đó là luật lệ và quy định của nước sở tại. Tuy vậy, một mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, mang tính xây dựng với các cơ quan chức năng của nước đối tác dưới hình thức trao đổi thông tin và cùng nhau tìm ra những giải pháp phù hợp với quy định và lợi ích của mỗi bên sẽ tạo thuận lợi hơn cho quá trình giải quyết những vướng mắc phát sinh.

Tranh thủ sự hỗ trợ của các doanh nghiệp

Với khuôn khổ pháp lý thuận lợi, được sự ủng hộ, nhất trí cao của Lãnh đạo cấp cao giữa các nước trong khu vực Đông Bắc Á, Việt Nam đang ngày càng thu hút được sự quan tâm của các doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc, trong đó có các doanh nghiệp thương mại. Đây là một trong những lợi thế mà chúng ta cần tận dụng để đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu hàng hóa sang thị trường các nước này. Chúng ta cần tranh thủ sự hợp tác của các doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc vì chính những doanh nghiệp này là những người nắm rõ nhất về các quy định và yêu cầu liên quan đối với hàng hóa nhập khẩu và trên cơ sở đó có thể đưa ra những bước đi phù hợp để đáp ứng được các biện pháp phi thuế quan mà Chính phủ Nhật Bản và Hàn Quốc đưa ra. Các doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc cũng sẽ có lợi ích trong mối quan hệ hợp tác này thông qua việc đưa các chủng loại hàng hóa đa dạng của Việt Nam tiếp cận được với người tiêu dùng các nước này cũng như cộng đồng người Việt Nam tại đây.

Đàm phán mở cửa thị trường

Riêng đối với thị trường Hàn Quốc, trong bối cảnh Việt Nam và Hàn Quốc đang tiến hành đàm phán Hiệp định thương mại tự do VKFTA, chúng ta hiện đang có cơ hội để trao đổi với phía Hàn Quốc về các biện pháp tăng cường khả năng tiếp cận của hàng hóa Việt Nam, đặc biệt là hàng nông lâm thủy sản, vào thị trường Hàn Quốc thông qua quá trình đàm phán. Thông qua đàm phán ta có thể yêu cầu phía Hàn Quốc có sự hợp tác tích cực trong lĩnh vực vệ sinh kiểm dịch và tiêu chuẩn kỹ thuật hướng tới việc hai bên công nhận các kết quả kiểm tra và giám định của các cơ quan kiểm tra chất lượng của mỗi nước để giảm bớt tỷ lệ lấy mẫu kiểm tra trong các lô hàng xuất khẩu của Việt Nam, đẩy nhanh thời gian thông quan và tiết kiệm chi phí cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

Đồng thời, ta cũng có thể yêu cầu hai bên thống nhất một lộ trình để phía Hàn Quốc đưa dần và đẩy nhanh quy trình đánh giá rủi ro nhập khẩu đối với các loại trái cây và rau quả tươi của Việt Nam, tạo điều kiện gia tăng số lượng các sản phẩm nông sản của Việt Nam được phép nhập khẩu vào thị trường Hàn Quốc.

(Nguồn: CôngThương, Vụ Thị trường Châu Á- Thái Bình Dương)