(VINANET) Trong suốt 14 năm qua, hạt tiêu Việt Nam luôn giữ vị trí số 1 thế giới về sản xuất và xuất khẩu. Năm 2014 lần đầu tiên xuất khẩu hạt tiêu đạt trên 1 tỷ USD và đang là mặt hàng XK đầy tiềm năng của Việt Nam.

Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) dự báo, sản lượng hồ tiêu thế giới vụ 2015 khoảng 374.500 tấn, tăng 38.300 tấn (tăng chủ yếu tăng từ Ấn Độ, Indonesia và Sri Lanka), cộng tồn kho cuối năm 2014 chuyển sang 2015 khoảng 59.000 tấn. Như vậy, tổng nguồn cung hồ tiêu thế giới năm 2015 là 433.536 tấn (tăng 12.630 tấn so với năm 2014). Nhu cầu tiêu thụ khoảng 416.000 tấn. Do đó cân đối cung cầu hồ tiêu năm 2015 có thể hài hòa hơn so với năm 2014. Tuy nhiên, giá vẫn có thể duy trì ở mức cao.

Năm 2014, sản lượng hạt tiêu của Việt Nam đạt gần 138.000 tấn (tăng 10,3% so với năm 2013). Khối lượng hạt tiêu xuất khẩu năm 2014 đạt 155.125 tấn với giá trị trên 1,2 tỷ USD (tăng 17% về khối lượng và tăng 35% về giá trị so với năm 2013). Giá tiêu XK bình quân 11 tháng năm 2014 đạt 7.679 USD/tấn, tăng 14,76% so với cùng kỳ năm 2013. Việt Nam chiếm trên 50% thị phần XK tiêu toàn thế giới nên Việt Nam có khả năng điều chỉnh được giá thế giới.

Hoa Kỳ - thị trường tiêu thụ nhiều nhất hạt tiêu của Việt Nam đạt mức tăng trưởng 39,42% về kim ngạch trong năm 2014, đạt 254,92 triệu USD, chiếm 21,22% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu của cả nước. 

Đứng thứ 2 thị trường là Singapore, với 106,58 triệu USD, chiếm 8,87%, tăng 67,41%. Tiếp đến thị trường U.A.E chiếm 6,96%, với 83,63 triệu USD, tăng 51,58%; thị trường Ân Độ chiếm 6,44%, với 77,33 triệu USD, tăng mạnh 113,66%; thị trường Hà Lan chiếm 6,26%, với 75,25 triệu USD, tăng 22,33%.

Xét về mức tăng trưởng kim ngạch năm 2014 so với năm 2013 thấy xuất khẩu sang hầu hết các thị trường đều đạt tăng trưởng dương; trong đó tăng mạnh ở các thị trường như: Pakistan (tăng 120,29%, đạt 34,12 triệu USD); Ấn Độ (tăng 113,66%, đạt 77,33 triệu USD); Malaysia (tăng 108,03%, đạt 12,81 triệu USD).    

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), mặc dù thắng lợi lớn trong năm 2014 nhưng vụ tiêu 2015 của Việt Nam năng suất sẽ giảm mạnh trên tất cả các tỉnh. Dự kiến, hạt tiêu thu hoạch rộ từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 4, bởi vào thời gian này nhiều người trồng hạt tiêu cần bán hàng để thanh toán công nợ.

Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch VPA khẳng định, thời gian tới, ngành hồ tiêu chủ trương không tăng số lượng mà củng cố nâng cao chất lượng, khuyến khích các DN đầu tư cho chế biến sâu, chế biến sạch, đa dạng hoá sản phẩm hồ tiêu, đa dạng hoá thị trường nhằm thâm nhập sâu vào chuỗi cung ứng hồ tiêu toàn cầu.

Năm 2015, Việt Nam sẽ tham gia ký kết nhiều Hiệp định thương mại mới, tạo thêm cơ hội cũng như thách thức cho các DN chế biến, XK hồ tiêu. Trong bối cảnh này, ông Đỗ Hà Nam cho rằng, việc tập trung xây dựng các tập đoàn, DN mạnh để dẫn dắt thị trường trong quá trình tái cấu trúc, xây dựng ngành hàng nông sản phát triển bền vững là một chiến lược đúng đắn.

Số liệu của TCHQ về xuất khẩu hạt tiêu năm 2014. ĐVT: USD

 

Thị trường

 

Năm 2014

 

Năm 2013

Năm 2014 so với năm 2013(%)

Tổng kim ngạch

       1.201.308.259

      889.775.608

+35,01

Hoa Kỳ

          254.917.957

      182.839.652

+39,42

Singapore

          106.583.497

        63.664.919

+67,41

Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất

            83.626.944

        55.316.097

+51,18

Ấn Độ

            77.325.607

        36.190.175

+113,66

Hà Lan

            75.249.956

        61.512.022

+22,33

Đức

            45.954.216

        80.466.283

-42,89

Pakistan

            34.124.907

        15.491.248

+120,29

Ai Cập

            32.958.744

        25.161.314

+30,99

Anh

            31.635.152

        31.298.683

+1,08

Hàn Quốc

            31.511.070

        54.447.003

-42,13

Nhật Bản

            27.872.800

        16.890.405

+65,02

Nga

            27.026.146

        25.439.004

+6,24

Tây Ban Nha

            25.575.379

        23.101.274

+10,71

Thái Lan

            21.967.410

        14.924.964

+47,19

Pháp

            21.140.684

        12.038.869

+75,60

Australia

            19.013.405

        12.470.404

+52,47

Ba Lan

            16.638.557

        16.670.936

-0,19

Philippines

            14.589.225

        14.327.842

+1,82

Nam Phi

            14.341.403

        12.270.483

+16,88

Malaysia

            12.808.480

          6.157.097

+108,03

Italia

            12.598.005

        10.742.178

+17,28

Canada

            11.278.120

          9.383.710

+20,19

Thổ Nhĩ Kỳ

              9.404.704

          8.048.506

+16,85

Ucraina

              8.385.005

        14.123.134

-40,63

Bỉ

              4.313.330

          3.875.703

+11,29

Cô Oét

              1.980.956

          1.951.996

+1,48

Thủy Chung

Nguồn: Vinanet