Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong năm 2014, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi đạt 3,1 tỷ USD, tăng 8% so với năm 2013. 8 thị trường có mức tăng trưởng xuất khẩu là Nam Phi, Ai Cập, An-giê-ri, Ma-rốc, Ni-giê-ri-a, Xê-nê-gan, Reunion và Tanzania trong khi 4 thị trường có kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh là Bờ Biển Ngà, Ăng-gô-la, Mô-dăm-bích và Ca-mơ-run.

Đây là những thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam chiếm đến 90% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta sang 55 nước châu Phi.

Các mặt hàng xuất khẩu chính sang thị trường khu vực này vẫn là điện thoại, gạo, cà phê, hạt tiêu, thủy sản, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, phương tiện vận tải và phụ tùng, máy móc thiết bị, sản phẩm dệt may và giày dép. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu gạo sang nhiều nước châu Phi bị sụt giảm do sự cạnh tranh gay gắt của gạo giá rẻ Thái Lan và Ấn Độ.

Thị trường Nam Phi:Nam Phi tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam tại châu Phi. Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nam Phi đạt 793,6 triệu USD, tăng 4% so với năm 2013. Các mặt hàng xuất khẩu quan trọng là điện thoại các loại và linh kiện (444,5 triệu USD), giày dép các loại (92 triệu USD), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (56,3 triệu USD), hàng dệt, may (21,1 triệu USD), cà phê (21 triệu USD), máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng (20,2 triệu USD), gạo (17,3 triệu USD), hạt tiêu (14,3 triệu USD), gỗ và sản phẩm gỗ (10,3 triệu USD), hạt điều (8,8 triệu USD), sản phẩm hóa chất (8,2 triệu USD), sản phẩm từ sắt thép (6 triệu USD), phương tiện vận tải và phụ tùng (5,8 triệu USD), bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc (2,8 triệu USD), chất dẻo nguyên liệu (1,2 triệu USD).

Thị trường Ai Cập: Với việc tình hình chính trị tại Ai Cập đi vào ổn định, quan hệ thương mại giữa Ai Cập với các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đã phục hồi và phát triển. Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu của nước ta sang thị trường này đạt 380,4 triệu USD, tăng 73% so với năm 2013 và Ai Cập đã lấy lại vị trí là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam tại châu Phi (năm 2013 chỉ đứng vị trí thứ tư). Các mặt hàng xuất khẩu chính gồm điện thoại (95,6 triệu USD), hàng thủy sản (71,8 triệu USD), xơ, sợi dệt các loại (45,2 triệu USD), hạt tiêu (32,9 triệu USD), phương tiện vận tải và phụ tùng (18,1 triệu USD), máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác (17 triệu USD), hàng rau quả (14,87 triệu USD), cà phê (9,2 triệu USD), hạt điều (8,5 triệu USD), cao su (6,5 triệu USD), hóa chất (5,7 triệu USD), hàng dệt, may (5,2 triệu USD),...

Thị trường An-giê-ri:Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang An-giê-ri đạt 246,5 triệu USD, tăng 39% so với năm 2013, với các mặt hàng chính gồm cà phê (94,1 triệu USD, + 64%), điện thoại các loại và linh kiện (90,3 triệu USD, +126%), gạo (15,8 triệu USD, -40%). Sự tăng trưởng này chủ yếu nhờ vào việc tăng xuất khẩu các mặt hàng cà phê và điện thoại di động. An-giê-ri đã vươn lên vị trí thứ ba năm 2014 từ vị trí thị trường xuất khẩu lớn thứ năm của Việt Nam tại châu Phi năm 2013).

Thị trường Ga-na:Kim ngạch xuất khẩu sang Ghana đạt 245,3 triệu USD, giảm 1%, trong đó xuất khẩu gạo đạt 322.131 tấn, giá trị 177,8 triệu USD (-2%), sắt thép các loại (14,4 triệu USD), máy vi tính và sản phẩm điện tử (12,4 triệu USD), kem đánh răng (9,9 triệu USD), phân NPK (9,8 triệu USD), clanke (4,8 triệu USD), lưới đánh cá (3,2 triệu USD), bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc (2 triệu USD).

Thị trường Ni-giê-ri-a: Xuất khẩu sang Ni-giê-ri-a đạt 189 triệu USD, tăng 28% so với năm 2013, trong đó máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 89,7 triệu USD, điện thoại di động (37,3 triệu USD), hàng dệt, may USD 15,8 triệu USD, phương tiện vận tải và phụ tùng 8,4 triệu USD, dược phẩm (4,4 triệu USD),...

Thị trường Bờ Biển Ngà:Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Bờ Biển Ngà đạt 160,2 triệu USD, giảm 35% so với năm 2013, trong đó xuất khẩu gạo đạt 104,9 triệu USD (214.204 tấn), giảm 54%, hàng dệt, may 17,8 triệu USD, sắt thép các loại (7,2 triệu USD), máy vi tính (6,1 triệu USD), hải sản (5 triệu USD), cà phê (4,7 triệu USD), clanhke (4 triệu USD). Do xuất khẩu gạo sụt giảm nên Bờ Biển Ngà đã tụt từ vị trí từ thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam ở châu Phi năm 2013 xuống vị trí thứ sáu năm 2014.

Thị trường Ma-rốc:Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ma-rốc đạt 147 triệu USD, tăng 45% so với năm 2013, với các mặt hàng chính gồm điện thoại và linh kiện (88,8 triệu USD), máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (13 triệu USD), cà phê (11 triệu USD), hàng hải sản (5,6 triệu USD), tàu thuyền (4 triệu USD), sản phẩm dệt may (3,6 triệu USD), giày dép (3,2 triệu USD), sợi (3 triệu USD), hóa chất (2,3 triệu USD).

Thị trường Ăng-gô-la:Kim ngạch xuất khẩu sang Ăng-gô-la đạt 81,5 triệu USD, giảm 34% trong đó hàng dệt, may đạt 12,2 triệu USD, gạo 7,1 triệu USD (13.699 tấn), clanhke và xi măng 7,1 triệu USD (193.159 tấn), hải sản (6,7 triệu USD), phân bón các loại (6 triệu USD), sữa và sản phẩm sữa (3,6 triệu USD), điện thoại di động và linh kiện (3,2 triệu USD), cà phê (2,8 triệu USD), kim loại thường khác và sản phẩm 2,1 triệu USD. Cũng giống như Bờ Biển Ngà, việc giảm xuất khẩu sang Ăng-gô-la là do kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gạo bị sụt giảm, đến 85%.

Thị trường Reunion: Reunion là một hòn đảo thuộc Pháp nằm trên Ấn Độ Dương, năm 2014, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này tăng đột biến đạt 81 triệu USD, tăng hơn 8 lần so với năm 2013. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam gồm khăn lau (39 triệu USD), clanhke (9,7 triệu USD), hàng hải sản (8,8 triệu USD), sản phẩm cắt may (5,7 triệu USD), sản phẩm chất dẻo (4,4 triệu USD), sản phẩm gỗ (2,4 triệu USD)...

Thị trường Mô-dăm-bích: Xuất khẩu sang Mô-dăm-bích chỉ đạt 78,5 triệu USD, giảm 46% so với năm 2013 trong đó clanhke và xi măng đạt 608.000 tấn, trị giá 23,3 triệu USD. Nguyên nhân xuất khẩu sang thị trường này sụt giảm là do giảm xuất khẩu mặt hàng gạo (chỉ đạt 20 triệu USD, -32%) trước sự cạnh tranh gay gắt về giá của gạo Thái Lan, Ấn Độ. Các mặt hàng xuất khẩu quan trọng khác là phân NPK (9,4 triệu USD), máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng (7,6 triệu USD), dây và cáp điện (5,7 triệu USD). 

Thị trường Mauritius: Xuất khẩu sang Mauritius đạt 67,5 triệu USD, giảm 7% so với năm 2013 trong đó điện thoại và linh kiện đạt 49,8 triệu USD, xi măng 5,1 triệu USD, hải sản 3 triệu USD, sợi các loại 2,6 triệu USD.

Thị trường Xê-nê-gan:Kim ngạch xuất khẩu sang Xê-nê-gan đạt 58,5 triệu, tăng 35% so với năm 2013 trong đó xuất khẩu gạo đạt 43.356 tấn, giá trị 15,2 triệu USD, hàng dệt, may 14 triệu USD, phương tiện vận tải và phụ tùng 9,8 triệu USD, máy vi tính 7,2 triệu USD, hạt tiêu 3,8 triệu USD, điện thoại 2 triệu USD.

Thị trường Tanzania:Kim ngạch xuất khẩu sang Tanzania đạt 51,6 triệu USD, tăng gấp đôi so với năm 2013 với các mặt hàng chính gồm hàng dệt may (16,4 triệu USD), gạo (9,5 triệu USD), dây và cáp điện (8,3 triệu USD), sản phẩm sắt thép (4,8 triệu USD), máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng (3,3 triệu USD).

Thị trường Cameroon:Kim ngạch xuất khẩu sang Cameroon chỉ đạt 45,5 triệu, giảm tới 55% so với năm 2013. Nguyên nhân là do xuất khẩu gạo chỉ đạt 9,1 triệu USD, giảm đến 85%. Các mặt hàng quan trọng khác là phân NPK (5,1 triệu USD), sản phẩm sắt thép (5 triệu USD), máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng (4,3 triệu USD), hàng hải sản (4,2 triệu USD).

Xuất khẩu sang châu Phi đầu năm 2015, những dấu hiệu khả quan

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu trong tháng 1/2015 của nước ta sang hầu hết các thị trường lớn của châu Phi đều đạt mức tăng trưởng cao, trong đó Nam Phi tiếp tục dẫn đầu với kim ngạch đạt 95 triệu USD, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu sang Ghana đạt 30 triệu USD, tăng 185%, sang Algeria 25,3 triệu USD, tăng 8%, sang Bờ Biển Ngà 24,3 triệu USD, tăng 767%, sang Nigeria 23 triệu USD, tăng 74%, sang Senegal đạt 8,3 triệu USD, tăng 93%. Riêng kim ngạch xuất khẩu sang Ai Cập chỉ đạt 20,37 triệu, giảm 11%. Đáng chú ý là xuất khẩu mặt hàng gạo đã có những dấu hiệu phục hồi trở lại.

Nguồn: vietnamexport.com