Trong đó, xuất khẩu hàng hóa sang thị trường này giảm 15,3%, đạt 1,93 tỷ USD, nhưng nhập khẩu lại tăng mạnh 31,5%, đạt 2,61 tỷ USD. Như vậy, 7 tháng đầu năm 2019 Việt Nam nhập siêu từ Australia 676,09 triệu USD, trong khi cùng kỳ năm 2018 Việt Nam xuất siêu sang Australia 300,14 triệu USD.
Trong 7 tháng đầu năm nay có rất nhiều nhóm hàng xuất khẩu sang Australia bị sụt giảm kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, xuất khẩu nhóm hàng dầu thô sang Australia sụt giảm mạnh nhất 75,3% so với cùng kỳ, đạt 59,37 triệu USD; xuất khẩu túi xách, ví,vali, mũ và ô dù cũng giảm mạnh 38,5%, đạt 20,03 triệu USD; hạt tiêu giảm 38,1%, đạt 3,84 triệu USD; dây điện và dây cáp điện giảm 37,2%, đạt 5,89 triệu USD.
Tuy nhiên, xuất khẩu nhóm hàng clinker và xi măng tăng mạnh nhất 148,8%, mặc dù kim ngạch chỉ đạt 3,9 triệu USD. Bên cạnh đó, nhóm phương tiện vận tải và phụ tùng cũng tăng cao 104,4%, đạt 68,58 triệu USD; gạo tăng 63,9%, đạt 6,21 triệu USD.
Trong số rất nhiều loại hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Australia, thì nhóm hàng điện thoại và linh kiện đạt kim ngạch lớn nhất 419,23 triệu USD, chiếm 21,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại sang Australia, giảm 15,5% so với cùng kỳ năm 2018. Nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 11% so với cùng kỳ, đạt 234,93 triệu USD, đứng vị trí thứ 2 về kim ngạch, chiếm 12,1%. Nhóm hàng giày dép đứng vị trí thứ 3, với mức tăng 15,3%, đạt 150,54 triệu USD, chiếm 7,8%. Tiếp sau đó là nhóm hàng dệt, may đạt 141,12 triệu USD, chiếm 7,3%, tăng 20,6% so với cùng kỳ.
Hiện nay, Việt Nam và Australia đang đẩy mạnh xuất nhập khẩu 2 chiều, Australia đã cấp phép cho nhập khẩu 4 loại quả của Việt Nam gồm vải tươi, xoài, thanh long và nhãn.
Ở chiều ngược lại, Australia đang xuất sang Việt Nam 148 loại hạt giống, củ giống khoai tây và 4 loại quả tươi như nho, cam, quýt và anh đào và 7 loại hạt giống cỏ, 4 loại cỏ khô.
Theo Bộ trưởng Bộ NN-PTNT, Việt Nam và Australia có cán cân thương mại khá cân bằng và bổ trợ nhau rất tốt trong lĩnh vực nông nghiệp. Australia có một nền nông nghiệp phát triển cao trên thế giới, chỉ với 4% lao động nông nghiệp, khoảng 250.000 người nhưng đã tạo ra lượng nông sản lớn với kim ngạch xuất khẩu đạt 48 tỷ USD. Đây là thành tựu nổi bật và Việt Nam mong muốn học tập kinh nghiệm từ phía Australia, đặc biệt là phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ.
Về xuất khẩu tôm nguyên con sang Australia, Việt Nam mong muốn Australia sớm cử cơ quan chuyên môn sang đánh giá lại lần nữa về qui trình kĩ thuật và an toàn dịch bệnh trong sản xuất tôm Việt Nam, trên cơ sở đó sớm cho phép nhập khẩu tôm nguyên con của Việt Nam. Ở chiều ngược lại, Australia đã công bố các điều kiện nhập khẩu quả nhãn của Việt Nam và mong muốn thời gian tới có thể xuất khẩu mạch nha và men ủ bia sang Việt Nam.

Xuất khẩu sang Australia 7 tháng đầu năm 2019

ĐVT: USD

Nhóm hàng

Tháng 7/2019

+/- so với tháng 6/2019 (%) *

7 tháng đầu năm 2019

+/- so với cùng kỳ (%) *

Tổng kim ngạch XK

296.673.836

21,77

1.934.104.036

-15,34

Điện thoại các loại và linh kiện

27.933.865

-11,29

419.227.750

-15,45

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

30.428.402

7,2

234.928.101

10,95

Giày dép các loại

21.865.842

-4,98

150.544.175

15,34

Hàng dệt, may

21.896.124

4,62

141.118.764

20,55

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

24.622.102

24,65

131.495.574

-34,44

Hàng hóa khác

18.822.402

24,32

128.226.553

 

Hàng thủy sản

16.232.174

-9,73

110.362.227

8,95

Gỗ và sản phẩm gỗ

12.267.534

3,6

79.753.297

-21,08

Phương tiện vận tải và phụ tùng

3.788.448

-80,4

68.584.392

104,36

Hạt điều

9.669.192

10,63

63.882.072

3,34

Dầu thô

44.601.540

 

59.370.676

-75,32

Sản phẩm từ sắt thép

14.865.811

330,01

54.731.564

5,79

Sản phẩm từ chất dẻo

4.949.356

23,68

30.853.160

-4,12

Hàng rau quả

3.859.293

24,37

22.967.109

33,57

Kim loại thường khác và sản phẩm

4.272.012

18,39

22.105.108

1,53

Sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ

3.940.164

4,61

21.913.939

-14,23

Giấy và các sản phẩm từ giấy

3.562.282

4,81

21.808.280

27,92

Cà phê

3.266.055

-27,09

21.587.325

-14,12

Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù

4.028.309

17,46

20.031.515

-38,45

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

3.495.102

22,07

19.377.717

16,31

Sắt thép các loại

2.279.651

35,29

18.623.958

-23,85

Sản phẩm hóa chất

2.660.430

32,85

14.970.053

-4,68

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

2.839.142

56,53

13.509.696

9,19

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

1.843.717

0,08

10.497.107

32,33

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

1.857.429

3,19

8.628.185

8,91

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

1.139.616

-8,24

7.880.350

7,43

Sản phẩm gốm, sứ

1.352.454

19,12

7.790.450

1,26

Gạo

1.738.993

76,05

6.209.410

63,89

Dây điện và dây cáp điện

838.829

-0,42

5.885.963

-37,16

Sản phẩm từ cao su

599.356

24,31

5.129.042

-32,09

Clanhke và xi măng

98.661

82,8

3.900.123

148,84

Hạt tiêu

320.367

-35,28

3.838.164

-38,13

Chất dẻo nguyên liệu

397.147

-3,72

2.673.867

-10,04

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

342.032

154,85

1.698.369

-15,97

 (*Tính toán từ số liệu của TCHQ)