Giá gạo xuất khẩu trung bình trong năm 2017 đạt 451,9 USD/tấn (tăng 0,7% so với năm 2016); trong tháng 12/2017 giá xuất khẩu đạt 468 USD/tấn, giảm 2,6% so với tháng 11/2017, nhưng tăng 5% so với giá của tháng 12/2016.

Xuất khẩu gạo sang Trung Quốc vẫn đứng đầu cả về lượng và kim ngạch, đạt 2,29 triệu tấn, trị giá 1,03 tỷ USD, chiếm 39% thị phần, tăng mạnh 31,8% về lượng và tăng 31,4% về kim ngạch so với năm ngoái. Giá gạo xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc giảm 0,3% so với năm 2016, đạt 448,6 USD/tấn.

Xuất khẩu sang thị trường Philippines đạt 552.854 tấn, tương đương 222,58 triệu USD, chiếm 9,5% trong tổng lượng và chiếm 8,5% trong tổng kim ngạch, tăng 38,4% về lượng và tăng 26% về kim ngạch so với năm 2016.  

Xuất khẩu gạo sang thị trường Malaysia duy trì mức tăng trưởng mạnh 97,3% về lượng và 79,4% về kim ngạch so với năm 2016, đạt 532.226 tấn, trị giá 210 triệu USD (chiếm 9,2%  trong tổng lượng và chiếm 8% trong tổng kim ngạch).

Trong năm 2017, thị trường xuất khẩu nổi bật nhất với mức tăng trưởng đột biến là thị trường Senegal, tăng gấp 72 lần về lượng và tăng gấp 38 lần về kim ngạch so với năm 2016, mặc dù chỉ đạt 24.963 tấn, tương đương 8,18 triệu USD. Xuất khẩu tăng rất mạnh, nhưng giá gạo xuất sang Senegal lại sụt giảm tới 46% so với năm 2016, chỉ đạt 327,7 USD/tấn.

Bên cạnh đó, xuất khẩu gạo sang I rắc cũng tăng mạnh 697% về lượng và tăng 919% về kim ngạch, đạt 128.035 tấn, trị giá 69,16 triệu USD.

Ngược lại, lượng gạo xuất khẩu sang Bỉ, Nam Phi, Indonesia, Hà Lan, Ba Lan giảm mạnh từ 50 – 95% so với năm 2016.

Năm 2017 được xem là một năm thành công đối với ngành gạo, vượt xa mục tiêu xuất khẩu 5 triệu tấn gạo đặt ra từ đầu năm. Xuất khẩu gạo năm nay tăng trưởng tốt chủ yếu nhờ việc tăng mua của thị trường Trung Quốc, nhất là ở 2 chủng loại gạo thơm và gạo nếp. Ngoài Trung Quốc, lượng gạo xuất khẩu sang thị trường khác cũng tăng mạnh.

Một số doanh nghiệp đã tìm hướng xuất khẩu sang các thị trường tiềm năng, có giá trị xuất khẩu cao như châu Âu, Nhật Bản… Theo các doanh nghiệp, trong thời gian tới, xuất khẩu gạo của Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng khả quan, nhờ nhu cầu tăng từ thị trường Trung Quốc, Philippines, Hàn Quốc, Irắc…

Thị trường xuất khẩu gạo hiện đang có nhiều tín hiệu tích cực, có nhiều đơn hàng từ các đối tác Philippines, Trung Quốc... Giá gạo xuất khẩu theo đó cũng tăng từ 20 - 50 USD/tấn tùy chủng loại so với tháng trước. Theo nhận định, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong quý I/2018 sẽ tốt hơn.

Đáng chú ý, kể từ tháng 1/2018, Trung Quốc sẽ giảm thuế nhập khẩu đối với loại gạo nếp nhập từ Việt Nam. Đây sẽ là cơ hội để thúc đẩy xuất khẩu gạo nếp sang thị trường này trong thời gian tới.

Dù có nhiều tín hiệu tích cực, tuy nhiên theo các chuyên gia, trong năm 2018, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nhất là liên quan đến hàng rào kỹ thuật, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm do các thị trường đặt ra.

Ngay như ở thị trường Trung Quốc, trong thời gian gần đây, thị trường này yêu cầu gạo nhập khẩu phải đảm bảo an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Với sự thay đổi này, nếu ngành gạo Việt Nam và các doanh nghiệp không kịp thích ứng thì sẽ khó đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới.

Xuất khẩu gạo năm 2017

Thị trường

Cả năm 2017

(%) Năm 2017 so với năm 2016

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

5.789.240

2.615.949.201

20,38

21,17

Trung Quốc

2.288.587

1.026.711.329

31,77

31,35

Philippines

552.854

222.577.095

40,02

33,2

Malaysia

532.226

210.007.083

97,32

79,37

Ghana

374.313

202.440.880

-22,1

-14,74

Bangladesh

245.480

102.998.587

 

 

Bờ Biển Ngà

224.482

102.511.578

17,55

12,46

Irắc

128.035

69.156.049

696,78

918,88

Singapore

105.293

52.983.948

22,49

22,96

Hồng Kông

58.478

30.925.294

-40,68

-37,04

Các tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất

40.541

21.205.163

4,31

4,95

Algeria

43.575

17.328.519

9,91

14,13

Đài Loan

30.039

13.315.572

-6,99

-14,74

Mỹ

23.086

12.608.819

-31,83

-31,49

Nga

22.379

8.757.797

-8,77

-7,95

Senegal

24.963

8.180.576

7,093,95

3,775,67

Brunei

16.821

6.827.967

-42,49

-46,47

Australia

11.009

6.188.840

0,09

-2,42

Angola

15.765

6.096.595

-57,2

-58,73

Indonesia

16.550

5.883.407

-94,9

-95,42

Nam Phi

6.439

3.049.397

-72,82

-67,44

Ucraina

5.821

2.549.260

21,75

31,37

Chi Lê

4.315

1.749.450

-17,84

-17,56

Hà Lan

3.662

1.685.302

-43,14

-43,78

Bỉ

2.907

1.219.757

-51,38

-54,15

Thổ Nhĩ Kỳ

1.798

990.611

-44,32

-30,72

Tây Ban Nha

1.039

474.193

-29,37

-23,38

Ba Lan

675

351.899

-78,45

-76,69

Pháp

212

197.463

-33,12

-10,18

(Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)