Theo thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam, trong nửa đầu năm 2018, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc đạt 16,6 tỷ USD, tăng 3,626 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2017.
Với kết quả này thì Trung Quốc chỉ đứng sau Mỹ, đây là hai thị trường đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong nửa đầu năm nay.
Mặc dù xếp thứ hai về kim ngạch sau thị trường Mỹ, nhưng mức độ tăng trưởng đối với thị trường Trung Quốc có sự bứt phá đáng kể.
Với kết quả tăng 3,636 tỷ USD (tức tăng 27,9%) mức tăng trưởng nhiều nhất trong cácthị trường xuất khẩu những tháng vừa qua.
Tính đến hết tháng 6/2018, có 4 nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt từ 1 tỷ USD trở lên chiếm 50,14% tỷ trọng, bao gồm: máy vi tính sản phẩm điện tử, điện thoại các loại và linh kiện, rau quả, xơ sợi dệt các loại trong đó máy vi tính sản phẩm điện tử là nhóm hàng đạt kim ngạch cao nhất 3,6 tỷ USD, tăng 28,97% kế đến là điện thoại trên 2 tỷ USD, tăng 267,19%; Rau quả đạt 1,4 tỷ USD tăng 17,97% và xơ sợi dệt đạt 1 tỷ USD, tăng 15,78% so với cùng kỳ 2017.
Các mặt hàng xuất khẩu lớn khác của Việt Nam sang Trung Quốc có thể kể đến như: máy ảnh, máy quay phim đạt 917 triệu USD; Máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng 716,3 triệu USD; giày dép 667,5 triệu USD….
Đáng chú ý, trong nửa đầu năm 2018 Trung Quốc tăng nhập khẩu nhóm hàng clanke và xi măng từ Việt Nam, gấp tới 90 lần về lượng và 102 lần trị giá so với cùng kỳ tuy chỉ có 3,8 triệu tấn, trị giá 131,6 triệu USD.
Ngoài mặt hàng clanke và xi măng tăng đột biến, thì chất dẻo nguyên liệu cũng tăng mạnh, gấp 4 lần về lượng và 3 lần trị giá, tương ứng với 316,2 nghìn tấn, 241,8 triệu USD. Bên cạnh đó, nhóm hàng dầu thô và gạo cũng có mức tăng khá, tăng lần lượt 63,9% và 27,44% về lượng và 50,53%; 14,62% trị giá.
Việc tăng trưởng xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu cũng giúp Việt Nam đang thu hẹp dẫn khoảng cách nhập siêu với Trung Quốc. Nếu cùng kỳ 2017, Việt Nam đang nhập siêu đến 13,89 tỷ USD, nhưng hết tháng 6/2018, con số này được kéo giảm xuống còn 13,56 tỷ USD (tức giảm 2,3%).

10 mặt hàng chủ lực xuất khẩu sang Trung Quốc nửa đầu năm 2018

Mặt hàng

6 tháng 2018

 

+/- so với cùng kỳ 2017 (%)

Lượng (Tấn)

Trị giá

(USD)

Lượng

Trị giá

Tổng

 

16.622.652.201

 

27,90

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

 

3.690.977.572

 

28,97

Điện thoại các loại và linh kiện

 

2.091.934.963

 

267,19

Rau quả

 

1.471.187.746

 

17,97

Xơ, sợi dệt các loại

380.191

1.080.659.142

11,33

15,78

Máy mảnh, máy quay phim

 

917.082.222

 

16,86

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

 

716.340.978

 

6,02

Giày dép các loại

 

667.557.958

 

28,25

Hàng dệt, may

 

632.576.221

 

45,54

Gỗ và sản phẩm gỗ

 

555.639.485

 

0,97

Cao su

363.281

519.883.241

24,20

3,68

(Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)