Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu than về Việt Nam trong tháng 6/2019 tăng 3,1% về lượng nhưng giảm 1,4% về kim ngạch so với tháng trước đó, đạt 3,99 triệu tấn, tương đương 375,17 triệu USD. Tính chung cả 6 tháng đầu năm 2019 lượng nhập khẩu tăng 99,6% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt trên 20,64 triệu tấn, kim ngạch cũng tăng 64,8%, trị giá trên 1,99 tỷ USD.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu than của Việt Nam ra nước ngoài chỉ đạt 402.236 tấn, tương đương 61,85 triệu USD, giảm 65,2% về lượng và giảm 59,8% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018. Như vậy, trong 6 tháng đầu năm nay, nhóm hàng than đá nhập siêu 1,93 tỷ USD, tăng 83% so với cùng kỳ năm ngoái.
Giá than đá nhập khẩu vào Việt Nam trong tháng 6/2019 đạt trung bình 94,1 USD/tấn giảm 4,6% so với tháng liền kề trước đó và cũng giảm 18,4% so với tháng 6/2018. Tính trung bình cả 6 tháng đầu năm 2019, giá than đạt 96,5 USD/tấn, giảm 17,4% so với cùng kỳ năm trước.
Ttrong nửa đầu tháng 7/2019, cả nước nhập khẩu hơn 2,2 triệu tấn than đá, trị giá 191 triệu USD. Lũy kế từ đầu năm đến 15/7/2019, cả nước nhập tới gần 23 triệu tấn than đá với tổng kim ngạch gần 2,17 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2018, lượng nhập khẩu tăng gần 12 triệu tấn, tương đương tăng 108%; kim ngạch tăng 69,5%.
Lượng than đá nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường Indonesia, đạt 7,35 triệu tấn trong 6 tháng đầu năm, trị giá 461,7 triệu USD, chiếm 35,6% trong tổng lượng than đá nhập khẩu của cả nước và chiếm 23,2% trong tổng kim ngạch, tăng 31% về lượng và tăng 16,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Giá nhập khẩu giảm 11%, đạt trung bình 62,9 USD/tấn.
Nhập khẩu từ thị trường Australia – thị trường lớn thứ 2 tăng 191,8% về lượng và tăng 104,1% về kim ngạch, đạt trên 7,07 triệu tấn, trị giá 796,46 triệu USD, chiếm 34,3% trong tổng lượng và chiếm 40% trong tổng kim ngạch. Giá nhập khẩu giảm 30%, đạt trung bình 112,6 USD/tấn.
Nhập khẩu nhóm hàng này từ thị trường Nga giảm 15,9% về giá, đạt trung bình 88,5 USD/tấn, lượng nhập khẩu tăng 231,8%, đạt 3,68 triệu tấn, kim ngạch tăng 179%, đạt 325.24 triệu USD, chiếm 17,8% trong tổng lượng và chiếm 16,3% trong tổng kim ngạch.
Than đá nhập khẩu từ thị trường Nhật Bản cũng tăng 134,9% về lượng và tăng 110,6% về kim ngạch, đạt 21.835 tấn, tương đương 6,82 triệu USD.
Tuy nhiên, nhập khẩu than đá từ Malaysia sụt giảm rất mạnh 99% về lượng và giảm 97,9% về kim ngạch, đạt 1.004 tấn, tương đương 0,2 triệu USD.
Hiện nhu cầu sử dụng than trong nước ngày càng tăng, nhất là phục vụ các nhà máy nhiệt điện, trong khi sản lượng khai thác thấp, do đó nhập khẩu than tiếp tục tăng mạnh.
Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030, để đáp ứng nhu cầu điện của đất nước, năm 2020, nước ta phải có tổng công suất các nhà máy điện đạt 75.000 MW, trong đó các nhà máy nhiệt điện than chiếm 48% tổng công suất. Đến năm 2030, tổng công suất các nhà máy điện phải đạt 146.800 MW, và tỷ trọng của các nhà máy nhiệt điện than được nâng lên 51,6%, với tổng công suất lên đến gần 76.000 MW, lớn hơn tổng công suất toàn bộ các nhà máy điện của Việt Nam vào năm 2020. Trong khi đó, theo quy hoạch ngành than Việt Nam đến năm 2020 có xét triển vọng đến năm 2030, nhu cầu than dành cho nhiệt điện là 64,1 triệu tấn vào năm 2020 và lên đến 131,1 triệu tấn vào năm 2030. Tuy nhiên, cũng trong quy hoạch này, sản lượng khai thác than trong nước được tính toán chỉ đạt từ 47 đến 50 triệu tấn vào năm 2020 và 55 đến 57 triệu tấn vào năm 2030. Trong khi nguồn than khai thác còn phải dành cho nhiều lĩnh vực khác như luyện kim, xi măng, phân bón và hóa chất, các đối tượng tiêu thu khác. Riêng 4 nhóm đối tượng này cũng được ước tính cần 25,5 triệu tấn than vào năm 2030. Như vậy, có thể thấy, tổng nhu cầu sản lượng than cả nước vào năm 2030 lên đến gần 157 triệu tấn, trong khi năng lực khai thác trong nước chỉ được tối đa 57 triệu tấn, điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam phải nhập khẩu tới 100 triệu tấn than vào năm 2030.
Nhập khẩu than 6 tháng đầu năm 2019

Thị trường

6 tháng năm 2019

+/- so với cùng kỳ (%)*

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

20.637.582

1.991.668.509

99,55

64,82

Australia

7.070.746

796.459.926

191,83

104,06

Indonesia

7.345.434

461.695.173

31,02

16,5

Nga

3.676.093

325.243.930

231,83

179,14

Trung Quốc

589.889

177.710.339

36,32

14,3

Nhật Bản

21.835

6.817.267

134,94

110,58

Malaysia

1.004

199.518

-99,38

-97,86

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)