Lũy kế xuất khẩu gạo của cả nước trong 7 tháng đầu năm đạt 2,94 triệu tấn, trị giá 1,32 tỷ USD (giảm 18,2% về lượng và 14,2% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái). Việc xuất khẩu giảm mạnh không chỉ trong tháng 7 mà kéo dài từ đầu quý 2 đến nay.

Đáng chú ý, xuất khẩu gạo trong tháng 7 sang tất cả các thị trường đều bị sụt giảm về kim ngạch so với tháng 6, nhưng có một số thị trường tuy lượng gạo xuất khẩu tăng, nhưng trị giá vẫn giảm do giá xuất khẩu thấp như: xuất sang Malaysia tăng tới 660% về lượng, nhưng trị giá lại giảm 568%; xuất sang Nam Phi tăng 1.606% về lượng, nhưng giảm 1.252%; xuất sang Indonesia tăng 1.019% về lương nhưng giảm 834% về trị giá.  

Nguyên nhân xuất khẩu giảm là do thiếu nhu cầu mua từ các thị trường nhập khẩu gạo chính, đặc biệt là Indonesia , Philippines và Trung Quốc. Trong khi đó, các nhà nhập khẩu Châu Phi lại quan tâm nhiều tới những phân khúc gạo có giá rẻ hơn, như gạo cũ Thái Lan hiện đang có giá rất cạnh tranh.

Mặc dù xuất khẩu ảm đạm nhưng giá lúa gạo trong nước vẫn cao, thậm chí còn đang tăng nhẹ. Điều này chứng tỏ lượng cung – cầu lúa gạo năm nay dư thừa không lớn và bà con nông dân có nhiều thuận lợi khi bán được giá cao. Tuy nhiên, các doanh nghiệp xuất khẩu lại đang gặp nhiều khó khăn do không có hợp đồng mới.

Các chuyên gia cho rằng, xuất khẩu gạo ảm đạm đang là tình hình chung của thị trường thế giới. Bởi Thái Lan đang dư thừa gạo quá lớn, lúc nào cũng chờ bán ra, còn các nhà buôn thì luôn thận trọng, chờ động thái của Thái Lan rồi mới định hình giá cả thị trường. Dù chất lượng gạo cũ Thái Lan khá kém, nhưng lượng gạo sử dụng được vẫn cao, từ đó tác động lên tình hình kinh doanh chung mặt hàng lúa gạo thế giới.

Mặt khác, trước đó các chuyên gia đều cho rằng do ảnh hưởng của El-Nino gây ra hạn, mặn ở Châu Á, khiến giá lương thực tăng cao. Tuy nhiên, hiện tượng này hầu như chỉ tác động đến ngành hàng lúa gạo, còn nhiều mặt hàng lương thực khác không bị ảnh hưởng, nên giá cả không tăng như những nhận định trước đó, thậm chí đang có dấu hiệu giảm mạnh. Điều này đã ảnh hưởng đến thị trường lương thực và kéo theo các giao dịch về lúa gạo cũng trầm lắng.

Một số doanh nghiệp cho biết, hiện có thông tin Philippines đang chuẩn bị kế hoạch mua gạo trở lại và Indonesia cũng sẽ mua trong năm nay. Nếu có nhu cầu từ các thị trường này thì Việt Nam sẽ có nhiều lợi thế, đặc biệt là cạnh tranh về giá bán.

Hiện mức giá xuất khẩu gạo bình quân của Việt Nam đang ở mức thấp nhất so với các nước đối thủ trong khu vực. Chẳng hạn, gạo 5% của Việt Nam hiện 370-380 USD/tấn, trong khi gạo mới Thái Lan trên 400 USD/tấn và các nước khác cũng vậy. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có nhiều lợi thế về hình thức bán hàng tận kho, do một số nước nhập khẩu gạo đã quen với phương thức giao hàng này.

Trước những biến động của cung – cầu lúa gạo trong nước và thế giới, VFA đã phải nhiều lần điều chỉnh mục tiêu xuất khẩu gạo trong năm 2016. Theo VFA, dự kiến xuất khẩu gạo của cả nước trong năm 2016 sẽ đạt khoảng 5,7 triệu tấn, giảm 14% so với năm 2015.

Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ về xuất khẩu gạo tháng 7 năm 2016

Thị trường

T7/2016

+/- (%) T7/2016 so với T6/2016

Lượng

(tấn)

Trị giá

(USD)

Lượng

(tấn)

Trị giá

(USD)

Tổng cộng

286.688

127.227.368

-12,02

-84,71

Trung Quốc

132.403

57.069.284

+20,78

-117,80

Malaysia

41.339

16.961.636

+660,05

-568,24

Gana

20.732

10.568.554

-52,46

-49,04

Hồng Kông

7.375

3.531.216

-26,21

-70,31

Nam Phi

6.401

2.465.345

+1606,93

-1252,81

Singapore

4.557

2.369.585

-23,99

-76,66

Nga

4.760

1.952.765

+48,29

-158,87

Hoa Kỳ

3.114

1.744.351

+2,30

-106,22

Tiểu vương QuốcẢRập thống nhất

3.054

1.545.622

+10,89

-107,75

Brunei

2.450

1.089.725

-21,55

-75,06

Indonesia

2.228

1.078.200

+1019,60

-833,76

Bờ biển Ngà

1.831

1.007.785

-95,49

-5,59

Angola

2.065

888.560

+139,28

-248,21

Chi Lê

1.450

573.725

+52,95

-152,98

Đài Loan

1.093

547.315

-21,93

-91,49

Australia

926

537.929

-37,09

-71,36

Ucraina

1.217

498.094

+30,44

-126,44

Philippines

750

387.400

-25,00

-86,04

Angieri

750

287.000

+36,36

-136,09

Bỉ

515

239.271

-3,74

-91,35

Hà Lan

441

214.839

-11,62

-98,43

Thổ Nhĩ Kỳ

539

195.985

-57,69

-33,93

Ba Lan

240

113.760

+46,34

-136,86

Tây BanNha

70

30.920

-7,89

-94,67

Pháp

21

20.174

-78,13

-29,12