Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, lượng cà phê xuất khẩu của Việt  Nam ra thị trường nước ngoài sau 3 tháng liên tục tăng mạnh (tháng 11/2017 tăng 27%, tháng 12/2017 tăng 58%, tháng 1/2018 tăng 26,8%), thì sang tháng 2/2018 xuất khẩu giảm mạnh 35,3% về lượng và giảm 35,9% về kim ngạch so với tháng liền kề trước đó, chỉ đạt 129.893 tấn, tương đương 251,3 triệu USD. So với tháng 2/2017 cũng giảm 11,3% về lượng và giảm 24,3% về kim ngạch.

Tính chung, cả 2 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu cà phê của cả nước tăng 15,1% về lượng nhưng giảm 1,1% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017, đạt 329.829 tấn, tương đương 641,57 triệu USD. Giá cà phê xuất khẩu trung bình cũng giảm trên 14% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 1.945 USD/tấn.

Các thị trường tiêu thụ nhiều cà phê của Việt Nam gồm có: Đức, Mỹ, Indonesia, Italia, Nhật Bản… Trong đó, xuất khẩu sang Đức chiếm trên 15% trong tổng lượng và 14% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước, đạt 49.716 tấn, tương đương 90,26 triệu USD, giảm nhẹ 2% về lượng và giảm 18% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Giá cà phê xuất khẩu sang Đức cũng giảm trên 16% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 1.815 USD/tấn.

Xuất khẩu sang Mỹ, chiếm trên 11% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước, đạt 37.010 tấn, trị giá 72,27 triệu USD, giảm 16,2% về lượng và giảm 28,7% về giá trị so với cùng kỳ. Giá xuất khẩu sang thị trường này cũng giảm 15%, đạt 1.953 USD/tấn.

Thị trường Indonesia được đặc biệt chú ý, với mức tăng đột biến gấp hơn 17 lần về lượng và gấp hơn 15 lần về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 28.665 tấn, trị giá 54,28 triệu USD,  chiếm trên 8% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước.

Cà phê xuất khẩu sang các nước EU nói chung đạt 134.828 tấn, trị giá 251,26 triệu USD, chiếm tới 40% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước; giảm 3,8% về lượng và giảm 18,4% về trị giá so với cùng kỳ.

Cà phê xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á nói chung tăng rất mạnh 248,8% về lượng và tăng 181,7% về trị giá so với cùng kỳ, đạt 47.061 tấn, trị giá 92,74 triệu USD; chiếm trên 14% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước.

Xét về mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cà phê trong 2 tháng đầu năm nay, thì thấy phần lớn các thị trường đều tăng so với cùng kỳ năm ngoái; Trong đó, ngoài thị trường Indonesia tăng đột biến như trên, thì còn một số thị trường cũng tăng mạnh về kim ngạch như: Hy Lạp tăng 346,5%, đạt 4,68 triệu USD; Nam Phi tăng 257% đạt 3,72 triệu USD; NewZealand tăng 90,5% đạt 1,04 triệu USD; Ai Cập tăng 80%, đạt 3,81 triệu USD.

Xuất khẩu cà phê tháng 2/2018

Thị trường

2T/2018

(%) so sánh 2T/2018 với cùng kỳ

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

329.829

641.571.076

15,08

-1,05

Đức

49.716

90.255.048

-2,13

-18,08

Mỹ

37.010

72.274.629

-16,16

-28,69

Indonesia

28.665

54.280.900

1,680,43

1,440,45

Italia

24.852

46.920.634

-4,76

-18,18

Nhật Bản

18.686

37.568.185

44,33

26,22

Tây Ban Nha

18.960

35.618.766

-2,31

-15,28

Nga

16.022

31.790.293

120,81

73,76

Algeria

14.036

26.441.969

54,87

34,29

Bỉ

14.106

25.403.909

-35,36

-46,17

Philippines

11.641

23.311.499

98,48

67,77

Anh

9.223

17.404.705

30,56

4,13

Pháp

7.810

14.354.222

23,46

6,8

Trung Quốc

5.173

13.364.890

20,36

-1,97

Hàn Quốc

6.557

13.012.261

-0,41

-9,65

Ấn Độ

6.572

12.422.130

-4,95

-10,15

Mexico

6.773

11.724.595

57,11

31,49

Malaysia

5.259

10.336.148

9,29

-5,49

Australia

3.680

7.023.924

49,65

22,15

Ba Lan

2.297

5.533.177

-34,52

-36,45

Bồ Đào Nha

2.875

5.347.484

88,77

53,91

Hy Lạp

2.540

4.677.168

450,98

356,48

Ai Cập

2.105

3.806.422

99,34

80,13

Thái Lan

1.228

3.753.973

79,27

37,22

Nam Phi

1.960

3.721.330

296,76

257,24

Hà Lan

1.514

3.388.192

-34,71

-40,3

Israel

880

3.101.812

1,38

3,77

Canada

888

1.766.412

-4,82

-19,14

Romania

497

1.620.203

-6,23

12,75

New Zealand

578

1.040.451

170,09

90,47

Đan Mạch

438

832.537

59,85

31,74

Campuchia

119

551.334

50,63

61,68

Singapore

149

504.712

-66,37

-66,03

Thụy Sỹ

146

301.380

89,61

75,97

(Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)