Trong đó, xuất khẩu hàng dệt may của doanh nghiệp có vốn FDI đạt 9,01 tỷ USD, chiếm 59,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Xét về thị trường, trong 6 tháng qua, hàng dệt may của Việt Nam xuất sang Mỹ đứng đầu về kim ngạch, đạt 7,03 tỷ USD, chiếm 46,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2018; xuất sang EU đứng thứ 2 về kim ngạch, đạt 1,95 tỷ USD, chiếm 12,9%, tăng 4,8%; sang Nhật Bản đạt 1,77 tỷ USD, chiếm 11,8%, tăng 4,3% và sang Hàn Quốc đạt 1,39 tỷ USD, chiếm 9,2%, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2018.
Hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á chỉ chiếm 4,6% trong tổng kim ngạch, đạt 697,91 triệu USD, tăng 30,3% so với cùng kỳ năm trước.
Nhìn chung xuất khẩu hàng dệt may sang đa số các thị trường trong 2 quí đầu năm 2019 đạt mức tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó, xuất khẩu tăng mạnh ở một số thị trường như: Senegal (tăng 532%, đạt 0,88 triệu USD), Nigeria (tăng 341,3%, đạt 18,34 triệu USD), Angola (tăng 71,6%, đạt 15,24 triệu USD); Nga (tăng 70,4%, đạt 131,87 triệu USD) .
Tuy nhiên, xuất khẩu hàng dệt may giảm mạnh ở một số thị trường như Hungary giảm 66,2%, đạt 0,76 triệu USD, Thổ Nhĩ Kỳ giảm 43,8%, đạt 13,77 triệu USD và Ghana giảm 40,7%, đạt 3,69 triệu USD.
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tăng trưởng, nhưng thực tế hiện nay, ngành dệt may Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với không ít khó khăn do khan hiếm đơn hàng. Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, tình hình đơn hàng của các doanh nghiệp tại thời điểm này không được khả quan so với năm 2018. Nhiều doanh nghiệp mới chỉ có đơn hàng đến hết quý 3/2019 và lượng đơn hàng mới chỉ bằng 70% so với cùng kỳ năm 2018, đặc biệt, việc tiêu thụ sợi và phụ liệu gặp nhiều khó khăn. Tình trạng khan hiếm đơn hàng khá phổ biến, không chỉ diễn ra ở những doanh nghiệp nhỏ mà còn tập trung vào những doanh nghiệp lớn như: Việt Tiến, May Nhà Bè, May 10… với tình hình như hiện nay thì mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD trong năm nay sẽ rất khó để đạt được.
Do đó, từ nay đến cuối năm, các doanh nghiệp sẽ phải cố gắng rất nhiều mới có thể đạt mục tiêu đã đề ra. Đồng thời, cần tìm kiếm các đơn hàng đảm bảo sản xuất liên tục từ nay đến cuối năm. Cùng với đó, tích cực đầu tư công nghệ để sản xuất ra các sản phẩm may mặc có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đáp ứng được thị hiếu của khách hàng.
 Xuất khẩu hàng dệt may 6 tháng đầu năm 2019

ĐVT: USD

Thị trường

Tháng 6/2019

+/- so tháng tháng 5/2019 (%)*

6 tháng đầu năm 2019

+/- so cùng kỳ năm trước (%)*

Tổng kim ngạch XK

2.880.012.254

5,37

15.091.731.259

10,63

Mỹ

1.333.780.006

3,44

7.033.416.207

9,97

Nhật Bản

314.609.635

5,31

1.773.368.580

4,27

Hàn Quốc

229.944.304

25,05

1.393.168.490

7,38

Trung Quốc đại lục

159.491.049

30,36

694.155.617

9,73

Canada

89.995.198

15,55

369.782.262

22,54

Đức

78.084.279

-0,62

365.346.395

-2,63

Anh

75.586.788

19,87

359.416.496

3,36

Hà Lan

75.302.252

6,65

324.448.530

10,58

Campuchia

48.972.618

-14,23

284.552.421

34,07

Pháp

54.575.194

-0,52

263.688.079

5,77

Tây Ban Nha

43.794.520

28,31

195.271.426

-2,91

Bỉ

30.906.972

-5,4

153.119.113

31,43

Italia

27.610.641

-17,98

146.076.668

23,03

Hồng Kông (TQ)

27.675.711

-5,16

139.156.741

17,88

Nga

27.185.192

-32,25

131.868.876

70,42

Indonesia

26.810.464

73,7

129.230.632

54,03

Đài Loan (TQ)

20.563.891

-7,34

122.628.784

21,76

Australia

20.928.948

3,85

119.319.678

21,49

Thái Lan

20.680.975

-3,62

104.622.634

46,57

Chile

13.519.454

-15,47

77.798.329

45,68

Philippines

11.903.318

-15,92

57.489.380

15,79

Mexico

10.384.876

-24,47

56.539.396

24,43

Malaysia

11.337.397

4,76

56.115.066

10,72

Singapore

9.225.852

-1,18

47.419.880

-11,11

Ấn Độ

7.953.689

-19,02

41.640.161

52,53

Ụ.A.E

8.180.451

-16,09

39.506.320

-15,41

Thụy Điển

8.479.364

7,36

39.349.163

-5,59

Bangladesh

3.882.476

-37,54

37.662.549

47,16

Đan Mạch

7.697.464

4,28

36.453.101

-16,47

Brazil

4.516.375

1,12

27.351.778

0,93

Ba Lan

5.441.627

8,86

26.873.879

-8,51

Saudi Arabia

5.399.753

29,07

24.964.467

7,3

Nigeria

3.145.682

31,57

18.336.482

341,27

Áo

3.740.576

-13,17

17.626.004

-21,44

Angola

1.972.099

11,34

15.240.590

71,55

Nam Phi

2.309.650

-21,31

15.123.007

10,46

Sri Lanka

3.468.826

27,51

14.789.359

 

Myanmar

2.199.963

-2,36

14.417.009

27,93

New Zealand

2.378.489

0,63

14.056.459

57,66

Thổ Nhĩ Kỳ

3.038.979

19,33

13.765.396

-43,8

Na Uy

3.268.380

43,39

11.446.891

-6,07

Israel

3.089.867

71,97

10.425.876

-3,48

Cộng hòa Tanzania

3.470.649

783,97

10.294.769

 

Achentina

2.264.959

109,19

9.323.461

-13,27

Panama

1.504.108

-27,95

8.776.212

-10,35

Séc

1.556.931

-11,46

6.885.225

20,4

Phần Lan

2.080.884

98,41

6.871.097

-11,39

Colombia

1.425.644

7,42

6.655.135

 

Pê Ru

765.239

-48,92

5.214.975

 

Thụy Sỹ

886.004

-37,61

5.130.597

-10,97

Hy Lạp

986.547

-19,85

4.238.961

-16

Lào

786.803

-5,93

4.060.983

30,75

Ghana

 

 

3.691.484

-40,65

Mozambique

53.577

 

3.511.136

 

Luxembourg

754.484

-16,92

3.122.384

 

Kenya

501.969

82,16

3.054.203

 

Ai Cập

367.990

-37,15

2.984.377

4,87

Ukraine

459.442

-56,01

2.678.783

28,42

Senegal

 

 

878.739

532,14

Hungary

418.101

125,26

755.275

-66,16

Slovakia

32.173

-55,58

578.043

1,22

Bờ Biển Ngà

155.584

-55,33

506.256

 

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)