Theo tính toán từ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 2 tháng đầu năm 2018, kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và Australia đạt hơn 1 tỷ USD (tăng 32% so với 2 tháng đầu năm 2017), trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Australia đạt gần 590 triệu USD, tăng 46,2%, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Australia đạt gần 443 triệu USD, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm 2017.

Australia và Việt Nam có cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu bổ sung cho nhau. Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng như sữa, da nguyên liệu; than đá, trái cây và có tiềm năng xuất khẩu nông sản bởi Australia, New Zealand ở bán cầu Nam, Việt Nam lại ở bán cầu Bắc, điều kiện khí hậu trái ngược nhau nên các sản phẩm theo mùa sẽ bổ sung cho nhau.

Tuy nhiên, Việt Nam mới xuất khẩu chủ yếu thủy sản chế biến. Dệt may, giày dép, hạt điều đang chiếm ưu thế tại thị trường Australia nhưng chủ yếu mới xuất khẩu điều nhân.

Để thúc đẩy xuất khẩu sang hai thị trường đầy tiềm năng này, các chuyên gia cho rằng, thời gian tới, Bộ Công thương cần phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản, thực phẩm thủy sản…

Để hàng Việt Nam có nhiều cơ hội xuất khẩu vào thị trường Australia, các doanh nghiệp Việt cần nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu. Các doanh nghiệp cần chú trọng áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và cạnh tranh được với hàng hóa của các quốc gia khác.

Trong đó, những quy định, tiêu chuẩn hàng hóa, nhất là vệ sinh an toàn thực phẩm tại thị trường này rất nghiêm ngặt. Thực tế đó đòi hỏi, các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản, lương thực, thực phẩm, rau quả cần thay đổi cách thức kinh doanh, tìm hiểu thị hiếu tiêu dùng; lựa chọn sản phẩm phù hợp và hình thành chuỗi liên kết để nâng cao khả năng cạnh tranh.

Trong số 33 nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Australia thì nhóm hàng điện thoại và linh kiện đứng đầu về kim ngạch với 142,48  triệu USD, chiếm 24% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 100% so với cùng kỳ năm 2017; nhóm hàng dầu thô đứng thứ 2 về kim ngạch, đạt 86,78 triệu USD, tăng 693%; tiếp đến nhóm hàng máy vi tính và linh kiện 50,49 triệu USD, chiếm 9%, tăng 10,7%; giày dép 30,97 triệu USD, chiếm 5%, giảm nhẹ 0,4%.

Trong 2 tháng đầu năm nay, hầu như các loại hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Australia đều tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó máy ảnh, máy quay phim và linh kiện đạt mức tăng trưởng cao nhất gấp 22 lần, đạt 746.145 USD. Bên cạnh đo xuất khẩu dầu thô cũng tăng mạnh 693%, đạt 86,78 triệu USD, dây điện và dây cáp điện cũng tăng 616%, đạt 2,46 triệu USD, sản phẩm từ sắt thép tăng 300%, đạt 24,32 triệu USD.

Xuất khẩu hàng hóa sang Australia 2 tháng đầu năm 2018

Đơn vị tính: USD

Mặt hàng

2T/2017

2T/2018

Tăng/giảm (%)

Kim ngạch XK

403.534.059

589.962.052

46,2

Điện thoại các loại và linh kiện

71.156.352

142.476.866

100,2

Dầu thô

10.939.672

86.775.145

693,2

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

45.598.642

50.493.905

10,7

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

28.185.573

38.479.553

36,5

Giày dép các loại

31.108.494

30.969.663

-0,4

Hàng dệt, may

26.476.468

29.875.147

12,8

Hàng thủy sản

18.326.527

25.996.556

41,9

Sản phẩm từ sắt thép

6.066.782

24.324.760

300,9

Gỗ và sản phẩm gỗ

21.750.734

23.562.358

8,3

Hạt điều

11.924.520

11.073.752

-7,1

Sản phẩm từ chất dẻo

5.744.840

7.284.850

26,8

Cà phê

5.750.341

7.023.924

22,1

Sắt thép các loại

9.779.149

6.670.155

-31,8

Kim loại thường khác và sản phẩm

8.281.371

6.430.865

-22,3

Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù

4.791.147

6.401.743

33,6

Sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ

4.008.869

6.022.616

50,2

Phương tiện vận tải và phụ tùng

15.525.732

5.612.555

-63,8

Hàng rau quả

2.906.879

4.230.469

45,5

Giấy và các sản phẩm từ giấy

4.993.313

4.091.188

-18,1

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

3.879.400

3.973.413

2,4

Sản phẩm hóa chất

3.332.376

3.871.746

16,2

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

1.678.545

2.886.427

72,0

Dây điện và dây cáp điện

342.974

2.455.723

616,0

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

1.906.451

2.337.318

22,6

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

1.338.299

2.063.815

54,2

Sản phẩm gốm, sứ

1.497.932

1.935.520

29,2

Hạt tiêu

1.396.863

1.743.253

24,8

Sản phẩm từ cao su

1.637.337

1.699.605

3,8

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

1.806.550

1.522.193

-15,7

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

33.431

746.145

2131,9

Chất dẻo nguyên liệu

905.295

731.278

-19,2

Gạo

778.714

589.209

-24,3

Clinker và xi măng

1.418.636

119.498

-91,6

Hàng khác

48.265.851

45.490.839

-5,7

(Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ )