Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng khi dự trữ dầu thô của Mỹ giảm mạnh hơn dự kiến và khả năng xảy ra bão trên vịnh Mexico đã gây thêm lo ngại về sự thắt chặt nguồn cung dầu trên thị trường.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 8/2019 tăng 4,5%, lên 60,43 USD/thùng, mức cao trong bảy tuần, trong khi dầu Brent tăng 4,4%, lên 67,01 USD/thùng, cao nhất kể từ ngày 29/5/2019.
Theo các chuyên gia, số liệu gây thất vọng về lượng dự trữ dầu thô của Mỹ và khả năng xảy ra bão tố trên vịnh Mexico, điều có thể làm gián đoạn hoạt động khai thác dầu, cùng các yếu tố khác đã góp phần giúp giá dầu tăng mạnh.
Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), dự trữ dầu thô của nước này trong tuần kết thúc ngày 5/7 giảm 9,5 triệu thùng, xuống 459 triệu thùng. Trong khi đó, các nhà phân tích tại IHS Markit nhận định mức dự trữ này sẽ giảm 2,1 triệu thùng. EIA cho biết sản lượng dầu thô của Mỹ sẽ tăng lên mức kỷ lục 12,36 triệu thùng/ngày trong năm 2019 từ mức cao kỷ lục 10,96 triệu thùng/ngày trong năm ngoái và cũng cao hơn mức 12,32 triệu thùng/ngày năm 2019; tiêu thụ xăng dầu và nhiên liệu khác của Mỹ sẽ tăng lên 20,7 triệu thùng/ngày trong năm 2019 từ 20,45 triệu thùng/ngày một năm trước. Số liệu đó sẽ là mạnh nhất kể từ năm 2005 khi tiêu thụ xăng dầu và nhiên liệu khác đạt cao kỷ lục 20,8 triệu thùng/ngày.
Thị trường cũng nhận được lực đẩy trước tin bão có thể hình thành trên vịnh Mexico vào cuối tuần, gây lo ngại về nguy cơ làm gián đoạn hoạt động khai thác dầu mỏ và khí đốt tự nhiên tại khu vực này.
Các thống kê cho thấy, vịnh Mexico là nơi chiếm 17% sản lượng dầu thô và 5% sản
Giá than cốc tại Trung Quốc chạm mức thấp nhất hơn 1 tuần, chịu áp lực giảm bởi nhu cầu từ các nhà máy thép suy yếu.
Giá than cốc kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Đại Liên giảm 2,5% xuống 2.082 CNY (302,42 USD)/tấn, trong đầu phiên giao dịch giảm 3,1% xuống 2.068,5 CNY/tấn, thấp nhất kể từ ngày 1/7/2019. Giá than luyện cốc – nguyên liệu để sản xuất than cốc – giảm 0,9% xuống 1.373 CNY/tấn.
Nhà phân tích cao cấp Richard Lu thuộc CRU Group, Bắc Kinh cho biết: "Hiện tại, lợi nhuận của các nhà máy thép ở mức thấp do giá quặng sắt tăng cao trong khi giá thép giảm, bởi vậy họ cố gắng giảm chi phí".
Giá khí tự nhiên tại Mỹ tăng lên mức cao mới 5 tuần, do dự báo thời tiết nóng hơn so với bình thường đến cuối tháng 7/2019 và sản lượng trong vài ngày qua giảm nhẹ.
Giá khí tự nhiên kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn New York tăng 1,9 US cent tương đương 0,8% lên 2,444 USD/mBTU, cao nhất kể từ ngày 31/5/2019.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng mạnh trong ngày 10/7 trước những hy vọng về khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất. Vàng giao ngay tăng 1,2% lên 1.414,6 USD/ounce, trong phiên có lúc đạt 1.417,2 USD/ounce sau khi giảm xuống 1.389,55 USD/ounce trong đầu phiên giao dịch; vàng kỳ hạn tháng 8/2019 tăng 0,9% lên 1.412,5 USD/ounce.
Trong cuộc điều trần trước Ủy ban Dịch vụ Tài chính thuộc Hạ viện Mỹ ngày 10/7, ông Jerome Powell cho rằng những bất ổn do căng thẳng thương mại và lo ngại về tăng trưởng toàn cầu tiếp tục cản trở triển vọng phát triển kinh tế Mỹ. Nhận định trên của ông Powell cho thấy Fed để ngỏ khả năng cắt giảm lãi suất trong tháng này, nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế, động thái ngay lập tức khiến thị trường vàng có phản ứng tích cực.
Ông Powell cho biết trong những tuần kể từ sau cuộc họp bàn chính sách của Fed hồi tháng 6/2019, dường như bất ổn do căng thẳng thương mại và lo ngại về sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu tiếp tục gây gánh nặng đối với triển vọng nền kinh tế Mỹ. Ngoài ra, ông cho biết sức ép lạm phát vẫn "âm thầm" và có nguy cơ tỉ lệ lạm phát thấp thậm chí kéo dài hơn so với dự đoán hiện nay.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao tháng 9/2019 tăng 7,9 US cent, tương đương 0,52%, lên 15,226 USD/ounce; giá bạch kim giao tháng 10/2019 tăng 14,90 USD, tương đương 1,83%, lên 830 USD/ounce; trong khi giá palađi tăng 2,9% lên 1.591,25 USD/ounce, trong đầu phiên giao dịch đạt 1.598 USD/ounce, cao nhất kể từ ngày 22/3/2019.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá tăng mạnh sau khi Mỹ - Trung mở ra vòng đàm phán thương mại mới và chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Jerome Powell thúc đẩy kỳ vọng Mỹ cắt giảm lãi suất vào cuối tháng này.
Giá đồng, nhôm, kẽm, nickel và chì tại London mỗi loại đều tăng hơn 1,5%, riêng đồng tăng 2% lên 5.940 USD/tấn. Giá nickel tăng 2,3% lên 12.990 USD/tấn, trong phiên có lúc đạt 13.000 USD/tấn, cao nhất kể từ ngày 17/4/2019.

Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Đại Liên giảm 0,2% xuống 881 CNY/tấn sau 2 ngày tăng liên tiếp.

Đồng thời, giá thép cây kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 0,7% xuống 4.021 CNY/tấn. Giá thép cuộn cán nóng giảm 1% xuống 3.884 CNY/tấn, sau số liệu cho thấy doanh số bán ô tô tại Trung Quốc trong tháng 6/2019 giảm 9,6% so với tháng 6/2018, tháng giảm thứ 12 liên tiếp tại thị trường ô tô lớn nhất thế giới.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê giảm do các nhà đầu tư kỳ vọng sản lượng cà phê năm 2020 tại nước sản xuất hàng đầu – Brazil – đạt mức cao kỷ lục. Trong khi đó, giá đường tăng do sản lượng đường khu vực trung nam Brazil trong nửa cuối tháng 6/2019 chỉ đạt 2,19 triệu tấn, giảm 4% so với cùng kỳ năm trước.
Giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn ICE giảm 1,55 US cent tương đương 1,4% xuống 1,059 USD/lb, phiên giảm thứ 3 liên tiếp. Giá cà phê robusta giao cùng kỳ hạn trên sàn ICE giảm 6 USD tương đương 0,4% xuống 1.430 USD/tấn.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn ICE tăng 0,15 US cent tương đương 1,2% lên 12,5 US cent/lb. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn ICE tăng 2,1 USD tương đương 0,7% lên 321,4 USD/tấn.
Giá đậu tương, ngô và lúa mì tại Mỹ đều tăng, do các nhà đầu tư đẩy mạnh mua vào trước báo cáo của USDA dự kiến sẽ giảm ước tính sản lượng ngô và đậu tương Mỹ năm 2019.
Giá ngô kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Chicago tăng 2-1/2 US cent lên 4,35 USD/bushel, tăng trở lại sau khi giảm xuống 4,27 USD/bushel, thấp nhất 1 tuần.
Giá đậu tương kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn Chicago tăng 8-1/2 US cent lên 8,94-1/2 USD/bushel.
Giá lúa mì kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Chicago tăng 2 US cent lên 5,04-3/4 USD/bushel, trong đầu phiên giao dịch chạm 4,98 USD/bushel, thấp nhất kể từ ngày 6/6/2019.
Giá dầu cọ tại Malaysia tăng được hỗ trợ bởi giá dầu thô tăng, song dao động trong phạm vi hẹp trước số liệu được đưa ra từ Ủy ban Dầu cọ Malaysia (MPOB). Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Bursa Malaysia tăng 0,3% lên 1.948 ringgit (470,53 USD)/tấn.
Giá dầu cọ được hỗ trợ bởi dự trữ tại Malaysia trong tháng 6/2019 giảm 0,97% so với tháng 5/2019 xuống 2,42 triệu tấn, song vẫn tăng so với khảo sát của Reuters dự báo giảm 4% xuống 2,35 triệu tấn.
MPOB báo cáo sản lượng dầu cọ trong tháng 6/2019 giảm 9,2% so với tháng 5/2019 xuống 1,52 triệu tấn, trong khi xuất khẩu giảm 19,4% so với tháng 5/2019 xuống 1,38 triệu tấn.
Giá cao su tại Tokyo tăng ngay cả khi giá cao su kỳ hạn tại Thượng Hải giảm do các yếu tố cơ bản trên thị trường suy yếu.
Giá cao su kỳ hạn tháng 12/2019 trên sàn TOCOM tăng 0,9 JPY lên 177,2 JPY/kg. Giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn TOCOM không thay đổi ở mức 150,6 JPY/kg.
Trong khi đó, giá cao su kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 75 CNY (10,9 USD) xuống 10.735 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

60,43

 

+4,5%

Dầu Brent

USD/thùng

67,01

 

+4,4%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

42.250,00

+920,00

+2,23%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,45

+0,01

+0,20%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

202,85

+2,33

+1,16%

Dầu đốt

US cent/gallon

200,01

+0,91

+0,46%

Dầu khí

USD/tấn

605,75

+11,25

+1,89%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

60.300,00

+1.080,00

+1,82%

Vàng New York

USD/ounce

1.426,50

+14,00

+0,99%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.935,00

+80,00

+1,65%

Bạc New York

USD/ounce

15,31

+0,08

+0,55%

Bạc TOCOM

JPY/g

52,90

+0,50

+0,95%

Bạch kim

USD/ounce

826,00

-0,62

-0,08%

Palađi

USD/ounce

1.593,79

+3,35

+0,21%

Đồng New York

US cent/lb

268,75

-0,65

-0,24%

Đồng LME

USD/tấn

5.940,00

+118,00

+2,03%

Nhôm LME

USD/tấn

1.850,00

+29,00

+1,59%

Kẽm LME

USD/tấn

2.401,00

+38,00

+1,61%

Thiếc LME

USD/tấn

18.195,00

-30,00

-0,16%

Ngô

US cent/bushel

437,75

-1,75

-0,40%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

503,25

-1,50

-0,30%

Lúa mạch

US cent/bushel

273,25

-2,25

-0,82%

Gạo thô

USD/cwt

11,90

-0,03

-0,25%

Đậu tương

US cent/bushel

912,25

-0,50

-0,05%

Khô đậu tương

USD/tấn

317,20

-0,30

-0,09%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,55

-0,01

-0,04%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

445,80

-3,00

-0,67%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.509,00

-13,00

-0,52%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

105,90

-1,55

-1,44%

Đường thô

US cent/lb

12,50

+0,15

+1,21%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

103,25

+0,30

+0,29%

Bông

US cent/lb

64,08

+0,26

+0,41%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

367,00

-1,70

-0,46%

Cao su TOCOM

JPY/kg

177,60

+0,40

+0,23%

Ethanol CME

USD/gallon

1,51

+0,02

+1,42%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters