Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô tăng do chứng khoán Mỹ đảo chiều tăng trở lại, dầu Brent lên mức cao nhất trong năm 2019.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc tăng 96 US cent, hay 1,5% lên 64,57 USD/thùng, sau khi có thời điểm chạm mức cao nhất trong năm nay là 64,81 USD/thùng, trong khi giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 51 US cent, hay 0,95% lên 54,41 USD/thùng. Giới đầu tư đang kỳ vọng cuộc đàm phán Mỹ - Trung sẽ tiến triển thuận lợi.
Bên cạnh đó, sự khởi sắc của giá dầu trong phiên này cũng có liên quan đến sự suy yếu của đồng USD sau đợt tăng mạnh trước đó. Sáng 14/2/2019, đồng “bạc xanh” xuống mức thấp nhất trong phiên này sau khi số liệu bán lẻ được công bố.
Giá dầu cũng nhận được hỗ trợ từ số liệu cho thấy kim ngạch xuất khẩu tháng Một của Trung Quốc bất ngờ gia tăng và lượng dầu thô nhập khẩu của nước này cũng tăng mạnh vào thời điểm trước Tết Nguyên Đán 2019.
Tuy nhiên, đà tăng của giá dầu trong phiên vừa qua bị kìm hãm bởi số liệu bán lẻ của Mỹ thấp và số lượng đơn xin hưởng trợ cấp thất nghiệp của nước này bất ngờ gia tăng trong tuần trước.
Giá than luyện cốc trên sàn Đại Liên (Trung Quốc) trong phiên 14/2/2019 giảm 0,7% xuống 1.272,5 CNY/tấn, trong khi than cốc tăng 0,8% lên 1.088,5 CNY/tấn. Tại cảng Newcastle (Australia), giá than đã giảm xuống 95,99 USD/tấn trong tuần kết thúc vào ngày 10/2/2019, là mức thấp nhất kể từ tháng 5/2018. Tính từ mức cao kỷ lục 7 năm đạt tới vào tháng 7/2018 (119,74 USD/tấn) tới nay, giá đã giảm gần 20%. Nhưng trái với than Australia sụt giá mấy tháng gần đây thì than Indonesia lại tăng giá mạnh bởi nhu cầu cao. Than đá của Indonesia – mỗi kg cho 4.200 kilocalories năng lượng – giá tăng lên 34,45 USD/tấn trong tuần tới 8/2/2019. Như vậy, tính từ thời điểm giá thấp nhất 28 tháng hồi cuối tháng 11/2018 (28,85 USD/tấn) tới nay, than Indonesia đã lên 19,4% giá trị. Điều đó chứng tỏ khách hàng chuyển hướng từ mua than chất lượng cao sang chất lượng thấp.
Nhập khẩu than đá vào Trung Quốc trong tháng 1/2019 tăng mạnh, gấp hơn 3 lần tháng trước đó, đạt 33,5 triệu tấn, lý do chủ yếu là giá than Australia giảm thấp.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giao ngay tăng do USD yếu đi, nhưng vàng giao sau lại giảm do sự lạc quan về các cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Trung đang diễn ra và tiến triển mới nhất tại Mỹ được cho là sẽ tránh được khả năng tái diễn việc đóng cửa chính phủ.
Kết thúc phiên giao dịch, vàng giao ngay tăng 0,5% lên 1.312,17 USD/ounce, trong khi vàng giao sau giảm nhẹ 0,1% xuống 1.313,9 USD/ounce.
Bộ Thương mại Mỹ công bố số liệu cho thấy doanh số bán lẻ của nước này tháng 12/2018 bất ngờ giảm 1,2% so với tháng trước đó, mức giảm mạnh nhất trong chín năm. Động lực của nền kinh tế yếu hơn đã củng cố nhận định cho rằng Fed sẽ chưa tiếp tục tăng lãi suất và điều này gây sức ép lên đồng USD, trong khi hỗ trợ giá vàng.
Về các kim loại quý khác, giá bạc giao tháng Ba giảm 12,4 xu, hay 0,79%, xuống 15,528 USD/ounce, trong khi giá bạch kim giao tháng Tư giảm 2,6 USD, hay 0,33%, xuống 789,2 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng tăng lên mức cao nhất 2 tháng bởi số liệu nhập khẩu từ Trung Quốc cho thấy nhu cầu của thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới này đang mạnh. Đồng giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 0,2% lên 6.137 USD/tấn vào cuối phiên, sau khi có lúc đạt 6.195 USD/tấn. Chỉ cách đây một ngày, giá còn ở mức thấp nhất 2 tuần do lo ngại về căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc.
Lượng đồng nhập khẩu trong tháng 1/2019 của Trung Quốc đạt 479.000 tấn, tăng 14% so với tháng trước đó và tăng 8,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Lượng đồng lưu kho tại sàn London hiện chỉ 74.750 tấn, gần sát mức thấp nhất kể từ 2005 đã chạm tới hồi tháng 10/2018.
Thứ kim loại được coi là chỉ báo "sức khỏe" kinh tế toàn cầu đã tăng 7% kể từ đầu tháng 1/2019 tới nay. Một số chuyên gia cho rằng nhu cầu đồng đủ mạnh để giữ giá trên mức 6.100 USD/tấn, nhưng không đủ để đẩy giá tăng nhiều hơn nữa nếu không có thêm yếu tố kích thích từ Trung Quốc.
Giá quặng sắt trên thị trường Trung Quốc tăng trở lại sau khi để mất 4% trong 2 phiên liền trước. Tuy nhiên, nhu cầu vẫn yếu bởi giới đầu tư nghi ngờ về khả năng gián đoạn nguồn cung từ mỏ quặng lớn thứ 2 thế giới.
Kết thúc phiên vừa qua, quặng sắt kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Đại Liên tăng 0,7% lên 628,5 CNY (92,94 USD)/tấn. Nhiều thương gia vẫn chưa trở lại thị trường cho tới hết Rằm tháng Giêng.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 3 giảm 1,05 US cent tương đương 1,1% xuống 97,85 US cent vào lúc đóng cửa phiên vừa qua, sau khi có lúc xuống chỉ 97,05 US cent, một mức rất thấp đối với hợp đồng kỳ hạn này. Hợp đồng giao tháng 5 giá cũng giảm 0,9 US cent tương đương 0,8% xuống 1,0145 USD/lb, sau khi có lúc xuống chỉ 100,60 US cent, cũng là thấp nhất đối với hợp đồng kỳ hạn tháng 5.
Nguồn cung dồi dào và triển vọng thời tiết thuận lợi ở những khu vực sản xuất chính tại Brazil đang gây áp lực giảm giá Arabica.
Trong khi đó đối với Robusta, hợp đồng giao tháng 5 trên sàn London tăng 3 USD tương đương 0,2% lên 1.536 USD/tấn vào cuối phiên, mặc dù trong phiên có lúc chạm mức thấp nhất 3 tuần là 1.519 USD/tấn.
Các doanh nghiệp ở Việt Nam đang rất khó mua cà phê bởi nông dân không muốn bán khi giá vẫn thấp và lượng tồn trữ bắt dầu giảm. Tại Tây Nguyên, cà phê nhân xô giá 32.200-33.400 đồng (1,39-1,44 USD)/kg, so với 32.400-33.600 đồng cách đây 2 tuần. Cà phê Robusta Việt Nam xuất khẩu (loại 2, 5% đen và vỡ) đang được chào giá trừ lùi 50 USD/tấn so với hợp đồng kỳ hạn tháng 3 tại London, vững so với cách đây 2 tuần. Trong khi đó tại Lampung (Indonesia), cà phê Robusta giá khoảng 22.700-23.700 rupee/kg.
Giá đường thô giao tháng 3/2019 giảm 0,14 US cent tương đương 1,1% xuống 12,61 US cent/lb, khi xuống chỉ 12,52 US cent/lb; đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 2,5 USD tương đương 0,7% xuống 341,80 USD/tấn.
Giá cao su tại Tokyo tăng theo xu hướng ở Thượng Hải bởi thị trường vẫn lạc quan về đàm phán thương mại Mỹ - Trung. Tại Tokyo, hợp đồng giao tháng 7/2019 tăng 1,5 JPY (0,0135 USD) lên 184,6 JPY/kg; loại TSR20 giao tháng 8 tăng 3,3 JPY lên 157,4 JPY/kg. Tại Thượng Hải, hợp đồng giao tháng 5 tới tăng 180 CNY (26,62 USD) lên 11.785 CNY/tấn.
Giá ngũ cốc và đậu tương trên sàn giao dịch Chicago đều giảm trong phiên vừa qua bởi thống kê cho thấy Trung Quốc và các khách hàng khác đã hủy những đơn hàng đậu tương Mỹ đặt hồi đầu tháng 1, và sản lượng của Argentina có thể cao hơn dự kiến.
Đối với kỳ hạn tháng 3, đậu tương giảm 13 US cent xuống 9,03-1/2USD/bushel vào cuối phiên, sau khi có lúc chỉ 9,03 USD (thấp nhất kể từ 22/1), ngô giảm 4 US cent xuống 3,74-3/4 USD/bushel, trong khi lúa mì đỏ mềm giảm 15-1/4 US cent xuống 5,07 USD/bushel (có lúc chỉ 5,06 USD, thấp nhất kể từ 3/1).
Nhu cầu lúa mạch của Trung Quốc và Saudi Arabia giảm trong những tuần gần đây có thể sẽ tiếp tục gây áp lực giảm giá mặt hàng này, mặc dù nguồn cung trên toàn cầu đang ở mức thấp. Các nhà phân tích thuộc Strategie Grains cho biết, nếu triển vọng vụ tới được mùa thì sức ép giảm giá sẽ còn lớn hơn nữa.
Giá lúa mạch tăng khá mạnh vào đầu vụ 2018/19 khi thời tiết ở Châu Âu và Australia bất thường khiến dự trữ giảm trên toàn cầu. Tuy nhiên, sự cạnh tranh từ mặt hàng ngô (dùng trong chăn nuôi) tăng lên đúng lúc nhu cầu của hai thị trường lớn nói trên sụt giảm khiến giá quay đầu giảm, kể cả ở thị trường Australia, nơi hạn hán nghiêm trọng làm cho lượng dư thừa dành cho xuất khẩu không còn nhiều. Giá lúa mạch tại EU và Argentina đã giảm 15-20 USD/tấn chỉ trong vòng một tháng qua.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

54,41

+0,51

+0,95%

Dầu Brent

USD/thùng

64,58

+0,97

+1,52%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

43.470,00

0,00

0,00%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,57

0,00

-0,08%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

150,85

+4,34

+2,96%

Dầu đốt

US cent/gallon

197,16

+3,28

+1,69%

Dầu khí

USD/tấn

604,25

+9,75

+1,64%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

58.710,00

-230,00

-0,39%

Vàng New York

USD/ounce

1.313,90

-1,20

-0,09%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.653,00

-6,00

-0,13%

Bạc New York

USD/ounce

15,53

-0,12

-0,79%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,40

-0,40

-0,72%

Bạch kim

USD/ounce

788,51

+0,62

+0,08%

Palađi

USD/ounce

1.418,49

-0,07

0,00%

Đồng New York

US cent/lb

277,40

+0,10

+0,04%

Đồng LME

USD/tấn

6.125,00

+19,00

+0,31%

Nhôm LME

USD/tấn

1.860,00

-1,00

-0,05%

Kẽm LME

USD/tấn

2.597,00

-11,00

-0,42%

Thiếc LME

USD/tấn

21.100,00

+175,00

+0,84%

Ngô

US cent/bushel

374,75

-4,00

-1,06%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

510,50

-15,50

-2,95%

Lúa mạch

US cent/bushel

282,00

+0,25

+0,09%

Gạo thô

USD/cwt

10,19

-0,07

-0,73%

Đậu tương

US cent/bushel

903,50

-13,00

-1,42%

Khô đậu tương

USD/tấn

309,60

-4,60

-1,46%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,23

-0,11

-0,36%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

487,20

-2,20

-0,45%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.270,00

-17,00

-0,74%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

101,45

-0,85

-0,83%

Đường thô

US cent/lb

12,42

-0,16

-1,27%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

117,70

-1,40

-1,18%

Bông

US cent/lb

71,71

+0,31

+0,43%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

423,30

+6,90

+1,66%

Cao su TOCOM

JPY/kg

185,30

+0,70

+0,38%

Ethanol CME

USD/gallon

1,33

-0,01

-1,12%

Nguồn: VITIC/Bloomberg. Reuters. CafeF