Trên thị trường năng lượng, giá dầu Brent và dầu ngọt nhẹ Mỹ biến động trái chiều. Trên sàn New York, giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao kỳ hạn tăng 0,50 USD lên 56,09 USD/thùng, mức cao nhất kể từ tháng 11/2018, trong khi đó tại thị trường London, giá dầu Brent Biển Bắc giao kỳ hạn lại hạ 0,05 USD xuống 66,45 USD/thùng. Giới đầu tư tiếp tục lo ngại về nhu cầu dầu mỏ trên toàn cầu và viễn cảnh không chắc chắn về vòng đàm phán thương mại mới nhất giữa Mỹ và Trung Quốc đã làm giảm sự lạc quan của giới đầu tư đối với chiều hướng thắt chặt nguồn cung.
Các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với lĩnh vực dầu mỏ của Venezuela, nhà cung cấp dầu thô của Mỹ, và Iran đã góp phần hỗ trợ giá dầu giao kỳ hạn của Mỹ. Tuy nhiên, theo nhà phân tích Phil Flynn từ Price Futures Group tại Chicago, đây chỉ là diễn biến trong ngắn hạn trong bối cảnh cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Trung đang diễn ra và triển vọng kinh tế toàn cầu vẫn ảm đạm.
Vòng đàm phán thương mại mới giữa giới chức của hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã được khởi động vào ngày 19/2/2019 tại Washington và dự kiến các cuộc đàm phán cấp cao sẽ diễn ra vào cuối tuần này.
Trong khi đó, ngân hàng lớn nhất châu Âu HSBC vừa cảnh báo rằng họ có thể sẽ đình hoãn lại một số hoạt động đầu tư trong năm nay, do không đạt được mục tiêu về lợi nhuận trong năm 2018 khi đà tăng trưởng tại Trung Quốc và nước Anh đều chậm lại.
Giá khí gas tự nhiên tại Mỹ tăng sau dự báo cho thấy thời tiết lạnh hơn so với dự kiến, song mức tăng bị hạn chế bởi sản lượng tăng cao.
Giá khí gas kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn New York tăng 3,7 US cent tương đương 1,4% lên 2,662 USD/mBTU.
Nhà phân tích Phil Flynn, thuộc Price Futures Group, Chicago cho biết: "Thời tiết tại Trung Tây rất lạnh và dự kiến thời tiết lạnh sẽ vẫn duy trì đến cuối tháng 2/2019, điều này làm gia tăng nhu cầu khí gas tự nhiên".
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng lên mức cao nhất trong vòng 10 tháng do USD giảm. Vàng giao ngay tăng 1% lên 1.339,5 USD/oune, trong phiên có lúc đạt 1.341,78 USD/ounce, cao nhất kể từ ngày 20/4/2018; vàng giao tháng 4/2019 tăng 22,70 USD, tương đương 1,72%, lên 1.344,80 USD/ounce vào lúc đóng cửa phiên giao dịch.
Chỉ số đồng USD, thước đo giá trị đồng USD so với một giỏ gồm sáu đồng tiền chủ chốt trên thị trường, đã giảm 0,33% xuống còn 96,46 (điểm). Giá vàng thường biến động ngược chiều với đồng USD, có nghĩa nếu đồng USD tăng giá thì giá vàng giao kỳ hạn sẽ giảm và ngược lại.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao tháng 3/2019 tăng 22,40 xu Mỹ (tăng 1,42%) lên 15,967 USD/ounce; còn giá bạch kim giao tháng 4/2019 tăng 14,10 USD (1,75%) lên 821,00 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng cao nhất 11 tuần Đồng đạt mức cao nhất trong hơn 2 tháng, do đồng USD suy yếu và kỳ vọng Mỹ - Trung Quốc sẽ đạt được thỏa thuận thương mại. Giá đồng kỳ hạn trên sàn London tăng 0,7% lên 6.319 USD/tấn, cao nhất kể từ ngày 3/12/2018 và tăng phiên thứ 5 liên tiếp. Tính đến nay, giá đồng đã tăng hơn 10% kể từ mức thấp nhất 18 tháng trong phiên ngày 3/1/2019.
Giá thép tại Trung Quốc tăng, trong khi giá quặng sắt duy trì ổn định sau 2 ngày tăng liên tiếp, do lo ngại gián đoạn nguồn cung.
Giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải tăng 0,3% lên 3.655 CNY (539,37 USD)/tấn, trong phiên có lúc tăng lên mức cao 3.698 CNY/tấn. Và giá thép cuộn cán nóng tăng 1,1% lên 3.638 CNY/tấn.
Giá quặng sắt kỳ hạn trên sàn Đại Liên duy trì ổn định ở mức 631 CNY/tấn, sau khi tăng gần 1% trong đầu phiên giao dịch.
Giá than luyện cốc giảm 1,1% xuống 1.256 CNY/tấn, phiên giảm thứ 5 liên tiếp, sau khi tăng lên mức cao đỉnh điểm 1.323,5 CNY/tấn trong tuần trước đó.
Trên thị trường nông sản, giá đường tăng do khả năng nguồn cung từ 2 nước sản xuất lớn nhất thế giới – Brazil và Ấn Độ - suy giảm, trong khi giá cà phê chạm thấp nhất năm 2019.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 5/2019 tăng 0,23 US cent tương đương 1,8% lên 13,23 US cent/lb, trong phiên có lúc đạt 13,27 US cent/lb, cao nhất 1 tháng. Và giá đường trắng giao cùng kỳ hạn tăng 1,3 USD tương đương 0,4% lên 359,1 USD/tấn, trong phiên có lúc đạt 360 USD/tấn, cao nhất 3,5 tháng – phiên thứ 2 liên tiếp.
Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn New York giảm 0,8 US cent tương đương 0,8% xuống 1,0085 USD/lb, trong phiên có lúc chạm 1 USD/lb, thấp nhất kể từ ngày 18/12/2018. Giá cà phê robusta giao cùng kỳ hạn giảm 17 USD tương đương 1,1% xuống 1.538 USD/tấn.
Giá dầu cọ tại Malaysia tăng hơn 1% lên mức cao nhất trong hơn 1 tuần, theo xu hướng giá dầu đậu tương tại Mỹ tăng mạnh và đồng ringgit suy yếu.
Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Bursa tăng 0,6% lên 2.299 ringgit (562,79 USD)/tấn, trong đầu phiên giao dịch giá dầu cọ tăng 1,1% lên 2.311 ringgit/tấn, cao nhất kể từ ngày 8/2/2019.
Giá dầu đậu tương kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Chicago tăng 0,8 do lạc quan về thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Giá dầu đậu tương kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Đại Liên tăng 0,8%, trong khi giá dầu cọ kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Đại Liên tăng 1,1%.
Giá lúa mì, ngô và đậu tương trên sàn Chicago đều giảm, khi các nhà thương nhân chờ đợi thông tin mới nhất của cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Trung.
Giá lúa mì đỏ, mềm vụ đông kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Chicago giảm 14-1/2 US cent xuống 4,89-3/4 USD/bushel, trong phiên có lúc chạm 4,88-1/2 USD/bushel, thấp nhất kể từ ngày 17/1/2018. Giá lúa mì đỏ, cứng vụ đông kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Chicago giảm 15-3/4 US cent xuống 4,6-3/4 USD/bushel, trong khi giá lúa mì vụ xuân kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 17-1/2 US cent xuống 5,55-1/2 USD/bushel.
Giá đậu tương kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Chicago giảm 6-3/4 US cent xuống 9-3/4 USD/bushel, trong phiên có lúc chạm 8,94-3/4 USD/bushel, thấp nhất kể từ ngày 17/1/2019. Giá ngô kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Chicago giảm 5 US cent xuống 3,69-3/4 USD/bushel, trong phiên có lúc chạm 3,69 USD/bushel, thấp nhất kể từ ngày 18/11/2018.
Nhập khẩu đậu nành Mỹ của Trung Quốc đã giảm 99% trong tháng 12 xuống chỉ còn 69.298 tấn, dữ liệu hải quan Trung Quốc cho biết hôm thứ Sáu (25/1), đưa lượng nhập khẩu cả năm 2018 xuống mức thấp nhất kể từ năm 2008 trong bối cảnh chiến tranh thương mại giữa hai nền kinh tế vẫn đang tiếp diễn. Đây là tháng thứ hai liên tiếp nhập khẩu đậu nành từ Mỹ của Trung Quốc dừng hoạt động trong bối cảnh tranh chấp thương mại, mặc dù một số giao dịch đã được nối lại khi các cuộc đàm phán giữa hai bên tiếp tục. Xuất khẩu của Mỹ trong tháng 12 đã giảm từ mức 6,19 triệu tấn một năm trước đó.
Tính cả năm, khối lượng nhập khẩu đậu nành từ Mỹ của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đạt 16,6 triệu tấn, bằng khoảng một nửa so với năm 2017 là 32,9 triệu tấn. Tuy nhiên, quốc gia châu Á đã thu mua 4,39 triệu tấn đậu nành từ Brazil vào tháng 12, tăng 126% so với mức 1,94 triệu tấn một năm trước, theo dữ liệu từ Tổng cục Hải quan Trung Quốc.
Trung Quốc thường nhập khẩu phần lớn lượng đậu trong quí cuối cùng của năm từ Mỹ vì đó là thời điểm vụ thu hoạch của Mỹ được đưa ra thị trường. Mặc dù vậy, các giao dịch thu mua giảm mạnh sau khi Bắc Kinh đánh thuế 25% đối với đậu nành Mỹ vào ngày 6/7/2018, như một phần của sự đáp trả trong cuộc tranh chấp thương mại. Trung Quốc đã đẩy mạnh nhập khẩu từ Brazil để lấp khoảng trống.
Giá cao su tại Tokyo tăng lên mức cao nhất gần 9 tháng, được thúc đẩy bởi kỳ vọng tiến triển đàm phán thương mại Mỹ - Trung Quốc và dõi theo xu hướng giá cao su kỳ hạn tại Thượng Hải tăng.
Giá cao su kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn TOCOM tăng 6,5 JPY tương đương 3,5% lên 193,5 JPY (1,75 USD)/kg, trong đầu phiên giao dịch đạt 194,2 JPY/kg, cao nhất kể từ ngày 30/5/2018. Giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn TOCOM tăng 2,8% lên 163,8 JPY/kg.
Giá cao su kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 630 CNY lên 12.375 CNY (1.826 USD)/tấn, trong phiên có lúc đạt 12.425 CNY/tấn, cao nhất kể từ ngày 11/10/2018.
Hiroyuki Kikukawa, tổng giám đốc nghiên cứu thuộc Nissan Securities cho biết: "Gia tăng lạc quan về các cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, cùng với kỳ vọng kích thích nhiều hơn bởi Bắc Kinh đã thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc cho vay hỗ trợ giá cao su tại Tokyo cũng như tại Thượng Hải".
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

56,09

+0,50

Dầu Brent

USD/thùng

66,45

-0,05

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

44.590,00

+50,00

+0,11%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,66

-0,01

-0,26%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

155,75

-0,63

-0,40%

Dầu đốt

US cent/gallon

198,96

-0,50

-0,25%

Dầu khí

USD/tấn

607,50

-1,50

-0,25%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

59.710,00

+200,00

+0,34%

Vàng New York

USD/ounce

1.345,60

+0,80

+0,06%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.777,00

+78,00

+1,66%

Bạc New York

USD/ounce

15,99

+0,02

+0,11%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,90

+0,80

+1,43%

Bạch kim

USD/ounce

822,05

+2,40

+0,29%

Palađi

USD/ounce

1.497,65

+16,80

+1,13%

Đồng New York

US cent/lb

287,80

0,00

0,00%

Đồng LME

USD/tấn

6.319,00

+44,00

+0,70%

Nhôm LME

USD/tấn

1.856,00

0,00

0,00%

Kẽm LME

USD/tấn

2.657,00

+19,00

+0,72%

Thiếc LME

USD/tấn

21.160,00

+25,00

+0,12%

Ngô

US cent/bushel

379,75

+1,75

+0,46%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

494,00

+1,75

+0,36%

Lúa mạch

US cent/bushel

277,25

+1,75

+0,64%

Gạo thô

USD/cwt

10,01

+0,02

+0,20%

Đậu tương

US cent/bushel

916,25

+1,75

+0,19%

Khô đậu tương

USD/tấn

309,40

-0,10

-0,03%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,16

+0,08

+0,27%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

482,70

+0,40

+0,08%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.350,00

+11,00

+0,47%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

100,85

-0,80

-0,79%

Đường thô

US cent/lb

13,23

+0,23

+1,77%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

118,45

+3,25

+2,82%

Bông

US cent/lb

72,19

+0,33

+0,46%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

397,40

-10,90

-2,67%

Cao su TOCOM

JPY/kg

192,80

-0,70

-0,36%

Ethanol CME

USD/gallon

1,31

-0,01

-1,13%

Nguồn: VITIC/Bloomberg. Reuters. CafeF