Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng khi các nhà đầu tư giảm lo ngại về cuộc chiến thương mại, thay vì đó tăng mối quan ngại về khả năng nguồn cung dầu từ Iran bất ngờ sụt giảm do các biện pháp trừng phạt của Mỹ.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc tăng 0,5% (38 US cent) lên 72,21 USD/thùng; dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 0,8% (52 US cent) lên 66,43 USD/thùng.
Bắc Kinh và Washington trong tuần trước cho biết tuần này hai bên sẽ tổ chức các cuộc đối thoại về thương mại – được kỳ vọng sẽ giải quyết được cuộc chiến thuế quan đang leo thang căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Dự kiến, một phái đoàn Trung Quốc gồm chín thành viên do Thứ trưởng Bộ Thương mại Vương Thụ Văn dẫn đầu sẽ gặp các đại diện thương mại Mỹ, do Thứ trưởng Tài chính phụ trách các vấn đề quốc tế David Malpass dẫn đầu, vào các ngày 22-23/8 tới.
Brian Kessens, nhà quản lý danh mục kiêm giám đốc điều hành tại Tortoise, nhận định giá dầu thô giảm thời gian vừa qua phần lớn là do lo ngại rằng các mức thuế cao hơn và căng thẳng thương mại sẽ làm gia tăng mức độ bất ổn và có thể ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Khi những căng thẳng này dịu bớt, giá dầu đã tăng trở lại.
Bộ Năng lượng Mỹ bán 11 triệu thùng dầu thô từ Dự trữ Dầu khí Chiến lược của quốc gia này trước khi các lệnh trừng phạt chống lại Iran có hiệu lực. Điều này cho thấy chính quyền của Trump đang thực hiện các biện pháp để kiềm chế giá năng lượng tăng trước các lệnh trừng phạt.
Các biện pháp trừng phạt Mỹ áp đặt với Iran đang hỗ trợ giá dầu thô. Chính phủ Mỹ đã đưa ra các biện pháp trừng phạt tài chính đối với Iran và từ tháng 11/2018 cũng sẽ nhắm đến lĩnh vực dầu mỏ của nhà sản xuất dầu lớn thứ ba Tổ chức các Nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) này. Ngày 20/8, Iran đã yêu cầu EU tăng cường những nỗ lực để cứu thỏa thuận hạt nhân năm 2015 giữa Tehran và các cường quốc mà Tổng thống Trump đã từ bỏ hồi tháng 5/2018. Hầu hết các công ty EU đã rút khỏi Iran bởi lo sợ các lệnh trừng phạt của Mỹ và Tehran cho biết công ty Total của Pháp đã chính thức rời khỏi dự án khí đốt South Pars của Iran. Chỉ riêng Trung Quốc phát đi tín hiệu sẽ tiếp tục mua dầu Iran bất chấp lệnh cấm của Mỹ.
Dữ liệu chính thức mới nhất cho thấy xuất khẩu dầu của Saudi Arabia đã tăng lên mức 7,240 triệu thùng dầu/ngày vào tháng 6/2018.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng cũng tăng do đồng CNY mạnh lên khiến vàng trở nên rẻ hơn đối với khách hàng Trung Quốc. Giá vàng giao ngay tăng 0,3% lên 1.188,10 USD/ounce (tuần trước có lúc rơi 1.159,96 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ tháng 1/2017), vàng giao tháng 12/2018 tăng 10,40 USD (0,9%) lên 1.194,60 USD/ounce.
Giá vàng đã giảm hơn 13% từ mức cao hồi tháng 4/2018 do USD tăng so với đồng CNY và các đồng tiền khác. Tuy nhiên, sức ép này đã được nới lỏng khi thông tin về các cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc hỗ trợ đồng CNY tăng giá.
Nhà phân tích Naeem Aslam, thuộc ThinkMarkets.com nhận định nếu đồng CNY tiếp tục tăng giá, vàng sẽ trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư Trung Quốc. Hiện người khổng lồ châu Á này đang là quốc gia tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới.
Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cũng đang chờ đợi bài phát biểu vào ngày 24/8 của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Jerome Powell, tại Jackson Hole, Wyoming (Mỹ), nơi ông có tiết lộ những “manh mối” về tiến trình nâng lãi suất tại Mỹ.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 0,7% xuống 14,66 USD/ounce (tuần trước có lúc xuống mức thấp nhất kể từ tháng 2/2016), bạch kim tăng 1,1% lên 789,99 USD/ounce (vẫn quanh mức thấp nhất một thập kỷ), palađi sau khi ở mức thấp nhất kể từ tháng 7/2017 vào tuần trước hiện đang giữ giá 910,60 USD/ounce, đầu phiên có lúc đạt mức cao nhất kể từ 2/8/2018.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng tăng trở lại sau ba tuần sụt giảm liên tiếp do dấu hiệu thị trường lạc quan về các cuộc đàm phán thương mại dự định giữa Trung Quốc và Mỹ, cũng như bởi các kim loại đã giảm quá nhiều trong thời gian gần đây. Giá đồng trên sàn giao dịch kim loại London (LME) tăng 1,1% kết thúc phiên tại 5.991,50 USD/tấn.
Tuần trước kim loại này đã xuống mức thấp nhất trong 14 tháng do các nhà đầu tư tránh nắm giữ các tài sản rủi ro sau khi đồng lira của Thổ Nhĩ Kỳ giảm mạnh và những lo sợ về tác động của cuộc chiến thương mại tới nhu cầu kim loại.
Công đoàn đại diện cho công nhân mỏ Escondida, Chile đã ký một hợp đồng lao động tập thể mới trong ngày 17/8, chấm dứt nguy cơ về một cuộc đình công có thể làm tê liệt mỏ đồng lớn nhất thế giới này và giảm những lo ngại về nguồn cung. Dự trữ đồng tại các kho của sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải, Trung Quốc ở mức 155,076 tấn, giảm một nửa kể từ mức đỉnh hồi tháng 3/2018.
Giá thép cây xây dựng tại Trung Quốc lên mức cao nhất trong gần 7 năm bởi những lo ngại về nguồn cung thắt chặt. Giá thép cây tại Thượng Hải tăng khoảng 4,5% lên 4.413 CNY (641,98 USD)/tấn, cao nhất kể từ cuối tháng 9/2011. Thép cuộn cán nóng được giao dịch nhiều nhất tại Thượng Hải đã đạt mức cao trong lịch sử ở mức 4.337 CNY/tấn trước khi kết thúc phiên tại 4.324 CNY/tấn. Giá các nguyên liệu thô sản xuất thép cũng tăng theo cùng với thép thành phẩm.
Giá thép tăng mạnh bởi tin đồn các nhà máy thép tại Giang Tô - tỉnh sản xuất thép lớn thứ hai Trung Quốc - có thể đối mặt với các cuộc thanh tra môi trường nghiêm ngặt hơn và buộc phải cắt giảm một nửa sản lượng trong tháng 11/2018 khi hội chợ thương mại quốc tế được tổ chức tại khu vực lân cận.
Tuy nhiên, quan chức Hiệp hội Sắt thép Giang Tô và hai nhà máy thép tại tỉnh này đã phản hồi rằng họ không nhận được bất kỳ thông báo nào về động thái như vậy từ chính phủ.
Theo công ty tư vấn Mystell, dự trữ thép thành phẩm tại Trung Quốc tăng 74.600 tấn lên 10,07 triệu tấn trong tuần trước với dự trữ thép cây tăng 0,1% và thép cuộn cán nóng tăng 0,8%.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12 đóng cửa giảm 3,75 US cent hay 3,6% xuống 1,0095 US/lb, sau khi giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 7/2006 tại 1,006 USD/lb vào những phút cuối phiên này. Điều này đánh dấu sự sụt giảm một ngày mạnh nhất đối với loại hợp đồng này kể từ tháng 9/2017. Sự suy yếu của đồng nội tệ Brazil kết hợp với vụ cà phê thuận lợi tại đó gây áp lực lên giá. Hợp đồng cà phê robusta kỳ hạn tháng 11/2018 chốt phiên tăng 6 USD hay 0,38% lên 1.566 USD/tấn.
Đường thô kỳ hạn tháng 10/2018 giảm 0,09 US cent hay 0,9% xuống 10,09 US cent/lb sau khi chạm mức thấp nhất 10 năm tại 9,98 US cent/lb. Tuy nhiên, tính dưới dạng đồng real của Brazil giá thay đổi rất ít. Một thương gia Mỹ cho biết đồng real yếu và nguồn cung cấp rất nhiều vì thế giá tiếp tục giảm. Đường trắng kỳ hạn tháng 10 chốt phiên giảm 3,80 USD hay 1,2% xuống 303,7 USD/tấn sau khi giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 12/2008 tại 302,8 USD/tấn.
Giá cao sy kỳ hạn Tokyo phục hồi từ mức thấp nhất 22 tháng theo xu hướng tại thị trường Thượng Hải. Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn giao dịch hàng hóa Tokyo chốt phiên tăng 1,9 JPY lên 169,9 JPY/kg. Tại Thượng Hải, hợp đồng giao tháng 1/2019 tăng 50 CNY (7,27 USD) đóng cửa tại 11.900 CNY/tấn
Li Dongling, chuyên gia phân tích thuộc First Futures cho biết “về cơ bản đây là sự phục hồi trong ngắn hạn, thúc đẩy bởi sự gia tăng hàng hóa nói chung. Tuy nhiên, các yếu tố cơ bản của cao su vẫn hoàn toàn yếu do dự trữ tổng thể tiếp tục tăng”.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

66,43

+0,52

+0,8%

Dầu Brent

USD/thùng

72,21

+0,38

+0,5%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

47.520,00

+10,00

+0,02%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,96

+0,02

+0,75%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

201,57

+0,06

+0,03%

Dầu đốt

US cent/gallon

211,05

-0,33

-0,16%

Dầu khí

USD/tấn

647,25

+2,50

+0,39%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

65.610,00

-80,00

-0,12%

Vàng New York

USD/ounce

1.199,70

+5,10

+0,43%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.207,00

+2,00

+0,05%

Bạc New York

USD/ounce

14,76

+0,09

+0,61%

Bạc TOCOM

JPY/g

52,10

-0,30

-0,57%

Bạch kim

USD/ounce

797,66

+1,55

+0,19%

Palađi

USD/ounce

913,56

-3,64

-0,40%

Đồng New York

US cent/lb

268,80

+0,20

+0,07%

Đồng LME

USD/tấn

5.991,50

+65,50

+1,11%

Nhôm LME

USD/tấn

2.055,00

+25,00

+1,23%

Kẽm LME

USD/tấn

2.377,50

-12,00

-0,50%

Thiếc LME

USD/tấn

18.800,00

+95,00

+0,51%

Ngô

US cent/bushel

375,75

-0,75

-0,20%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

558,75

-3,75

-0,67%

Lúa mạch

US cent/bushel

266,25

-2,25

-0,84%

Gạo thô

USD/cwt

10,41

-0,11

-1,09%

Đậu tương

US cent/bushel

888,25

-5,00

-0,56%

Khô đậu tương

USD/tấn

329,40

-1,20

-0,36%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,79

-0,09

-0,31%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

510,20

-1,70

-0,33%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.195,00

+46,00

+2,14%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

100,95

-3,75

-3,58%

Đường thô

US cent/lb

10,09

-0,09

-0,88%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

156,10

-1,25

-0,79%

Bông

US cent/lb

82,62

-0,08

-0,10%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

475,80

+3,30

+0,70%

Cao su TOCOM

JPY/kg

169,60

-0,30

-0,18%

Ethanol CME

USD/gallon

1,36

-0,01

-0,44%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg