Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng trong bối cảnh USD dao động và một số giếng dầu Libya khôi phục sản xuất gây biến động thị trường.
Dầu thô Brent giao tháng 3 giá tăng 42 US cent tương đương 0,6% lên 69,03 USD/thùng, trong phiên có lúc giá lên mức 69,51 USD. Phiên 15/1 dầu Brent đã từng chạm 70,03 USD, mức cao nhất kể từ tháng 12/2014.
Dầu thô Mỹ giá tăng 12 US cent tương đương 0,2% lên 63,09 USD/thùng.
Chỉ số đồng USD – so với rổ 6 đồng tiền đối tác chủ chốt của Mỹ - giảm xuống mức thấp nhất gần 3 năm trong phiên vừa qua. USD giảm thường thúc đẩy hoạt động mua vào đối với những hàng hóa tính bằng đồng tiền này.
Cung cầu dầu thô trên thị trường thế giới đang dần trở nên cân bằng sau khi các nước sản xuất chủ chốt kiềm chế sản lượng và xuất khẩu.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho biết sản lượng dầu Venezuela đã giảm trong năm 2017 và dự báo sẽ tiếp tục giảm trong năm 2018. IEA cho biết nếu OPEC và các đồng minh ngoài OPEC duy trì việc tuân thủ tốt với thỏa thuận sản lượng, thị trường dầu mỏ sẽ cân bằng trong năm 2018.
Trong khi đó, theo công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes, các nhà khoan dầu cắt giảm số giàn khoan trong tuần tính tới 19/1, đưa tổng số giàn khoan xuống 747 giàn.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tiếp tục tăng sau khi Chính phủ Mỹ tiếp tục phải đóng cửa do chưa thể thống nhất được kế hoạch ngân sách do mâu thuẫn giữa Tổng thống Donald Trump với Đảng Dân chủ về vấn đề nhập cư.
Giá vàng giao ngay tăng 0,05% lên 1.332,13 USD/ounce,hợp đồng này đã giảm 0,5% trong tuần qua, là tuần giảm đầu tiên trong 6 tuần. Vàng giao tháng 2 giảm 1,2 USD tương đương 0,1% xuống 1.331,90 USD/ounce.
Vàng tăng giá còn do lượng vàng nắm giữ tại một số quỹ tăng. Trong tuần qua, lượng vàng do SPDR Gold Trust, quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới, nắm giữ đã tăng hơn 2%, mức tăng cao nhất trong vòng gần 5 tháng qua. Theo cuộc khảo sát qua Wall Street, có 41% cho rằng vàng sẽ tăng giá trong tuần này, 35%
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giảm 0,08 US cent tương đương 0,6% xuống 13,17 US cent/lb, trong phiên có lúc giá lên 13,47 US cent. Đường trắng giảm 60 US cent tương đương 0,2% xuống 352,90 USD/tấn.
Cà phê arabica tăng 1,3% tương đương 1,1% lên 1,2255 USD/lb, robusta tăng 11 USD tương đương 0,6% lên 1.767 USD/lb.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/-(%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

63,09

+0,12

+0,2%

Dầu Brent

USD/thùng

69,03

+0,42

+0,06%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

45.130,00

+370,00

+0,83%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,26

+0,03

+0,96%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

188,88

+0,87

+0,46%

Dầu đốt

US cent/gallon

206,74

+1,05

+0,51%

Dầu khí

USD/tấn

614,25

-0,75

-0,12%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

60.390,00

+390,00

+0,65%

Vàng New York

USD/ounce

1.336,30

+4,40

+0,33%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.754,00

+20,00

+0,42%

Bạc New York

USD/ounce

17,05

+0,06

+0,33%

Bạc TOCOM

JPY/g

60,90

+0,20

+0,33%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

999,85

+3,17

+0,32%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.102,10

+1,50

+0,14%

Đồng New York

US cent/lb

320,95

+1,10

+0,34%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.068,00

+27,00

+0,38%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.249,00

+29,00

+1,31%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.414,00

-2,50

-0,07%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.750,00

+150,00

+0,73%

Ngô

US cent/bushel

351,25

-0,75

-0,21%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

424,00

-1,75

-0,41%

Lúa mạch

US cent/bushel

267,25

+2,25

+0,85%

Gạo thô

USD/cwt

12,23

+0,05

+0,37%

Đậu tương

US cent/bushel

983,50

-0,75

-0,08%

Khô đậu tương

USD/tấn

338,30

-0,30

-0,09%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,19

+0,03

+0,09%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

493,70

-0,40

-0,08%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.938,00

+7,00

+0,36%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

122,55

+1,30

+1,07%

Đường thô

US cent/lb

13,17

-0,08

-0,60%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

148,45

+1,95

+1,33%

Bông

US cent/lb

83,41

-0,01

-0,01%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

474,80

-5,20

-1,08%

Cao su TOCOM

JPY/kg

209,60

+0,40

+0,19%

Ethanol CME

USD/gallon

1,35

0,00

-0,22%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg