Trên thị trường năng lượng, gía dầu tăng do tồn trữ dầu thô của Mỹ giảm. Tuy nhiên, đà tăng bị hạn chế bởi lo ngại suy thoái kinh tế xảy ra khi Mỹ - Trung không sớm đạt thỏa thuận thương mại.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc tăng 81 US cent (1,4%) lên 59,51 USD/thùng, sau khi có lúc chạm mức cao nhất trong phiên là 59,88 USD/thùng; dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 1,29 USD (2,4%) lên 54,93 USD/thùng.
Tồn trữ dầu thô của Mỹ giảm mạnh trong tuần trước khi nhập khẩu giảm. Cụ thể, theo Viện Dầu mỏ Mỹ, tồn trữ dầu thô Mỹ giảm 11,1 triệu thùng dầu, so với dự đoán là chỉ giảm 2 triệu thùng. Bộ Năng lượng Mỹ sẽ công bố số liệu chính thức về dự trữ dầu mỏ tuần qua trong ngày 28/8/2019.
Ông Bob Yawger, quan chức phụ trách năng lượng kỳ hạn của Mizuho tại New York (Mỹ), cho biết, dự trữ dầu thô của Mỹ giảm trong khi việc tinh chế dầu tăng mạnh là những yếu tố tác động tích cực đến giá dầu thô, qua đó lấn át lo ngại các căng thẳng thương mại sẽ tác động xấu đến nhu cầu năng lượng.
Tổng thống Mỹ Donad Trump ngày 26/8/2019 cho biết, ông tin rằng Trung Quốc thực sự muốn đạt được thỏa thuận, trong khi Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc cho rằng nước này sẵn sàng giải quyết tranh chấp thông qua các cuộc đàm phán “bình tĩnh”.
Tuy nhiên, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung lại bị đẩy lên sau khi Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng không có bất kỳ thông tin nào về các cuộc gọi điện gần đây giữa Mỹ và Trung Quốc về thương mại.
Giá dầu đã giảm khoảng 20% kể từ mức cao nhất của năm 2019 ghi nhận được hồi tháng Tư, một phần bởi những lo ngại rằng xung đột thương mại Mỹ-Trung đang làm tổn thương kinh tế toàn cầu, qua đó tác động đến nhu cầu “vàng đen”.
Tuần trước, Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết sẽ áp thuế bổ sung từ 5% đến 10% lên tổng cộng 5.078 sản phẩm có xuất xứ từ Mỹ, trong đó có dầu thô, nông sản như đậu tương, và máy bay loại nhỏ. Đáp lại, Tổng thống Mỹ Trump đang yêu cầu các công ty nước này xem xét đóng cửa nhà máy tại Trung Quốc và sản xuất hàng hóa tại Mỹ.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng lên mức cao nhất trong vòng 6 năm do các nhà đầu tư tìm kiếm “tài sản an toàn” trước một loạt bất ổn, như căng thẳng thương mại leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc và triển vọng mong manh của kinh tế toàn cầu.
Cuối phiên giao dịch, vàng giao ngay tăng 0,3% lên 1.529,90 USD/ounce; trước đó vào đầu phiên, kim loại quý này đã giao dịch ở mức cao nhất kể từ tháng 4/2013 là 1.554,56 USD/ounce. Giá vàng kỳ hạn của Mỹ đi ngang ở mức 1.537,20 USD/ounce. Trong khi đó, vàng được giao dịch bằng đồng euro và AUD đều ghi nhận các mức cao kỷ lục.
Cuộc chiến thương mại dai dẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã làm các thị trường bất ổn trong hơn một năm qua và làm dấy lên mối lo ngại về nguy cơ suy giảm kinh tế toàn cầu.
Số liệu cho thấy lượng đơn hàng mới đối với tư liệu sản xuất từ Mỹ trong tháng Bảy tăng khiêm tốn, trong khi xuất khẩu giảm mạnh nhất trong gần ba năm qua, qua đó cho thấy tình trạng yếu kém trong đầu tư kinh doanh vẫn tiếp diễn trong quý III/2019.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 1,6% lên 17,67 USD/ounce, sau khi chạm mức cao nhất kể từ tháng 9/2017 là 17,77 USD/ounce lúc đầu phiên; giá bạch kim giao ngay không đổi ở mức 853,40 USD/ounce, trong khi giá palađi giao ngay tăng 0,8% lên 1.471,70 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng vững, nhưng vẫn quanh mức thấp nhất gần 2 năm do lo ngại hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp của Trung Quốc suy yếu bởi cuộc chiến thương mại với Mỹ.
Kết thúc phiên giao dịch vừa qua, đồng kỳ hạn giao sau 3 tháng trên sàn London có giá 5.682 USD/tấn, tăng nhẹ 0,9% so với phiên 23/8/2019 – khi giá chạm mức thấp nhất kể từ tháng 6/2017 là 5.624,5 USD/tấn (ngày 26/8/2019 thị trường London đóng cửa nghỉ lễ).
Sản lượng công nghiệp của Trung Quốc tháng 7/2019 tăng 4,8%, thấp nhất trong vòng 17 năm. Trung Quốc chiếm khoảng một nửa tổng nhu cầu đồng toàn cầu.
Giá thiếc trên sàn London phiên vừa qua có lúc giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 5/2016, là 15.565 USD/tấn, do nhu cầu yếu đi từ các công ty điện tử (dùng thiếc trong các mối hàn) và trong các ngành ắc quy cũng như hóa chất.
Thiếc kỳ hạn giao sau 3 tháng trên sàn London đã giảm 0,9% xuống 15.750 USD/tấn vào lúc đóng cửa.
Kẽm – dùng trong ngành mạ kim loại phiên vừa qua có lúc chạm mức thấp nhất kể từ tháng 10/2016, là 2.221 USD/tấn, mặc dù sau đó hồi phục nhẹ để kết thúc ở mức tăng 0,9% lên 2.274 USD/tấn.
Giá nickel – nguyên liệu trong sản xuất thép – đã tăng 0,3% trong phiên vừa qua, lên 15.700 USD/tấn. Nickel đã vượt xa các kim loại khác trong năm nay khi tăng tới 50% bởi nhu cầu vững và lo ngại nguồn cung bị gián đoạn.
Chênh lệch giá giữa hợp đồng giao ngay với hợp đồng giao sau 3 tháng đã tăng lên mức cao nhất trong vòng 10 năm, là 70 USD/tấn, từ mức âm 10 USD/tấn cách đây hai năm.
Giá thép tại Trung Quốc đã giảm trên 3% trong phiên vừa qua, mức giảm mạnh nhất trong vòng 9 tháng,do lo ngại nhu cầu thấp triền miên. Thị trường nhà đất Trung Quốc dự báo sẽ tăng chậm lại từ nay tới cuối năm.
Kết thúc phiên, thép cuộn cán nóng trên sàn Thượng Hải giảm 3,3% xuống 3.561 CNY (502,06 USD)/tấn, giảm nhiều nhất kể từ 26/11/2018. Thép cây giảm 3,7% xuống 3.281 CNY/tấn, cũng là phiên giảm nhiều nhất trong vòng 9 tháng.
Giá thép tham chiếu tại Thượng Hải đã giảm 10 -13% kể từ tháng 7/2019 do nhu cầu yếu (theo mùa) và triển vọng tiêu thụ kém do cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung.
Thép giảm giá kéo sắt giảm theo. Quặng sắt kỳ hạn tháng 10/2020 trên sàn Đại Liên – hợp đồng được giao dịch nhiều nhất – giảm 3,1% trong phiên vừa qua, xuống 586 CNY/tấn, tính từ đầu quý tới nay giảm 15%, sau 5 quý liên tiếp tăng.
Sản lượng thép thô toàn cầu tháng 7/2019 tăng 1,7% so với cùng tháng năm ngoái, lên 157 triệu tấn, trong đó sản lượng của Trung Quốc – nước sản xuất thép lớn nhất thế giới – đạt 82,5 triệu tấn, tức là cao hơn 5% so với tháng 7/2018.
Quặng sắt hàm lượng 62% nhập khẩu vào Trung Quốc phiên vừa qua hồi phục nhẹ lên 87,5 USD/tấn, sau khi chạm mức thấp nhất gần 5 tháng vào tuần trước (86,5 USD/tấn). Trên sàn giao dịch Singapore, quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2019 giảm 2,7% xuống 81,44 USD/tấn.
Lượng quặng sắt lưu giữ tại các kho ở cảng biển Trung Quốc tăng 6 tuần liên tiếp, hiện đạt 124,65 triệu tấn, theo số liệu của SteelHome. Đây là mức cao nhất kể từ cuối tháng 5/2019.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2019 giảm 0,35 US cent tương đương 0,4% xuống 97,15 US cent/lb do đồng real giảm giá. Robusta giao tháng 11/2019 trái lại tăng 25 USD tương đương 1,9% lên 1.339 USD/tấn.
Gía đường thô kỳ hạn tháng 10/2019 đã giảm 0,19 US cent tương đương 1,7% xuống 11,24 US cent/lb vào cuối phiên vừa qua, sau khi có lúc chỉ 11,16 US cent, thấp nhất kể từ 1/10/2018. Đây là phiên thứ 6 giá giảm trong vòng 7 phiên vừa qua. Nguyên nhân do đồng real Brazil trượt giá so với USD, hiện ở mức thấp nhất gần 1 năm. Dự đoán sản lượng đường Ấn Độ sẽ không thấp như đánh giá ban đầu nhờ mưa đến cải thiện tình trạng thiếu nước cũng góp phần gây áp lực giảm giá đường.
Đối với mặt hàng đường trắng, giá kỳ hạn tháng 10/2019 cũng giảm 4,3 USD tương đương 1,4% xuống 306,10 USD/tấn, sau khi có lúc chỉ 305,2 USD/tấn.
Giá đậu tương trên sàn Chicago giảm 1% xuống 8,59-1/4 USD/bushel, ngô giảm 0,6% xuống 3,66-1/4 USD/bushel, trong khi lúa mì tăng 0,5% lên 4,76-3/4 USD/bushel. Vụ mùa ngũ cốc của Mỹ đang tiến triển rất tốt, hứa hẹn sản lượng sẽ tăng.
Với mặt hàng cao su, giá tại Tokyo kỳ hạn tháng 2/2012 giảm 1,9 JPY tương đương 1,2% xuống 163,8 JPY/kg, trong khi giá tại Thượng Hải kỳ hạn tháng 9/2019 tăng 1,4% lên 11.335 CNY/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

54,93

+1,29

+2,4%

Dầu Brent

USD/thùng

59,51

+0,81

+1,38%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

36.240,00

+600,00

+1,68%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,20

-0,03

-1,26%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

164,99

+3,34

+2,07%

Dầu đốt

US cent/gallon

181,59

+2,35

+1,31%

Dầu khí

USD/tấn

563,50

+5,50

+0,99%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

53.800,00

+210,00

+0,39%

Vàng New York

USD/ounce

1.551,40

-0,40

-0,03%

Vàng TOCOM

JPY/g

5.232,00

+37,00

+0,71%

Bạc New York

USD/ounce

18,29

-0,01

-0,04%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,30

+1,20

+2,00%

Bạch kim

USD/ounce

866,78

+0,78

+0,09%

Palađi

USD/ounce

1.483,05

+1,28

+0,09%

Đồng New York

US cent/lb

255,55

+0,25

+0,10%

Đồng LME

USD/tấn

5.633,00

-50,00

-0,88%

Nhôm LME

USD/tấn

1.770,00

+4,00

+0,23%

Kẽm LME

USD/tấn

2.254,00

+9,00

+0,40%

Thiếc LME

USD/tấn

15.880,00

-295,00

-1,82%

Ngô

US cent/bushel

366,25

-2,00

-0,54%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

476,75

+1,50

+0,32%

Lúa mạch

US cent/bushel

267,00

-3,00

-1,11%

Gạo thô

USD/cwt

11,46

-0,07

-0,61%

Đậu tương

US cent/bushel

859,25

-8,00

-0,92%

Khô đậu tương

USD/tấn

297,00

-1,60

-0,54%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,35

-0,34

-1,19%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

446,40

-2,00

-0,45%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.247,00

+9,00

+0,40%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

97,15

-0,35

-0,36%

Đường thô

US cent/lb

11,24

-0,19

-1,66%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

102,25

+1,05

+1,04%

Bông

US cent/lb

57,92

+0,10

+0,17%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

368,20

+4,90

+1,35%

Cao su TOCOM

JPY/kg

163,70

+0,70

+0,43%

Ethanol CME

USD/gallon

1,32

+0,01

+0,61%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters