Trên thị trường năng lượng, giá dầu quay đầu giảm sau nhiều phiên tăng do đồng USD mạnh và số liệu cho thấy sản lượng khai thác dầu thô tăng cao ở Mỹ
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 3/2018 trên sàn New York giảm 0,58 USD (hay 0,9%), xuống 65,56 USD/thùng; dầu Brent giao cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 1,06 USD (1,5%) xuống 69,46 USD/thùng, sau khi có thời điểm vọt lên 70,64 USD/thùng.
Cuối tuần qua, công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes cho biết số lượng giàn khoan dầu đang hoạt động ở Mỹ trong tuần tính đến ngày 26/1 đã tăng thêm 12 giàn. Thông tin này cũng tác động tiêu cực tới tâm lý nhà đầu tư trên thị trường.
Sản lượng dầu của Mỹ đã xấp xỉ với nước xuất khẩu dầu hàng đầu thế giới là Saudi Arabia, và chỉ đứng sau Nga (với sản lượng trung bình lên đến 10,98 triệu thùng/ngày trong năm 2017), dự đoán sẽ sớm vượt ngưỡng 10 triệu thùng/ngày. 
Đợt tăng của giá dầu thời gian gần đây là nhờ sự hậu thuẫn của đồng USD yếu. Đồng USD có khả năng giảm giá 3% trong tháng này, nhờ đó giá dầu đang hướng đến một tháng Giêng tăng mạnh nhất trong vòng 5 năm qua.
Ngân hàng Mỹ JP Morgan dự báo giá dầu trung bình năm 2018 sẽ tăng 10 USD lên 70 USD/thùng đối với loại Brent và 10,70 USD lên 65,63 USD/thùng đối với loại WTI. Riêng dầu Brent có thể chạm mốc 78 USD/thùng vào cuối quý I/2018 hoặc đầu quý II của năm nay.
Trong một phát biểu mới đây, Bộ trưởng Dầu mỏ Iraq nhận định thị trường dầu mỏ đã có bước cải thiện, và nước này sẽ tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng khai thác của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC).
Hầu hết các nhà quan sát thị trường dầu thô thế giới có chung nhận định, Trung Quốc sẽ tiếp tục là động lực thúc đẩy tăng trưởng nhu cầu dầu thô của thế giới, qua đó hỗ trợ giá mặt hàng này đi lên.
Đây không phải là một nhận định bất hợp lý, khi số liệu của Hải quan Trung Quốc cho thấy nhà nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới này đã nhập 8,4 triệu thùng/ngày vào năm 2017, tăng 800.000 thùng/ngày hay 10,1% so với năm trước. Con số tăng thêm nêu trên tương đương gần một nửa mức tăng trong nhu cầu của toàn thế giới.
Trong báo cáo công bố hồi đầu tháng này, Công ty Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC) dự báo quốc gia châu Á này trong năm 2018 sẽ nhập khẩu 452 triệu tấn dầu, tương đương 9 triệu thùng/ngày và tăng khoảng 600.000 thùng/ngày so với năm 2017. Con số này thấp hơn so với năm trước nhưng vẫn là một lực đẩy đáng kể đối với nhu cầu dầu thô trên toàn cầu.
Song CNPC cũng dự báo rằng hoạt động xuất khẩu các sản phẩm dầu mỏ tinh chế của Trung Quốc sẽ gia tăng trong năm 2018, với lượng xuất khẩu dầu diesel dự kiến tăng 47% lên 23,8 triệu tấn (tăng khoảng 167.000 thùng/ngày). Xuất khẩu xăng cũng được dự báo sẽ tăng 23% lên khoảng 12,8 triệu tấn (tăng 81.000 thùng/ngày).
Ở châu Á, Ấn Độ, Singapore, Nhật Bản và Hàn Quốc đều có các nhà máy lọc dầu và các nước này đều xuất khẩu các sản phẩm của họ.
Theo giới quan sát, hiện đã có dấu hiệu cho thấy hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc đã tác động đến lợi nhuận trong lĩnh vực lọc dầu ở khu vực. Điển hình là tại Singapore, mức lợi nhuận trên mỗi thùng tại một nhà máy lọc dầu ở nước này đã giảm xuống từ mức 9,07 USD hồi tháng 9/2017 xuống còn 6,22 USD trong phiên giao dịch ngày 25/1.
Tất nhiên giá dầu thô tăng cao cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của các cơ sở lọc dầu. Nhưng điều mà các nhà máy lọc dầu ở khu vực châu Á không mong muốn chứng kiến đó là sự gia tăng xuất khẩu từ Trung Quốc.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng cũng giảm vào lúc đóng cửa do đồng USD phục hồi và lợi suất trái phiếu chính phủ các nước tăng khiến giới đầu tư đẩy mạnh hoạt động bán vàng sau đợt tăng giá gần đây.
Giá vàng giao ngay giảm 0,5% xuống còn 1.342,56 USD/ounce, trong khi giá vàng giao tháng 2/2018 giảm 11,8 USD, hay 0,9% và chốt phiên ở mức 1.340,30 USD/ounce.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 1,2% xuống còn 17,19 USD/ounce, trong khi giá bạch kim giảm 0,2% và được giao dịch ở mức 1.007,80 USD/ounce
Lợi suất trái phiếu chính phủ của Mỹ cũng chạm các mức cao trong nhiều năm trước những đồn đoán rằng ngân hàng trung ương các nước sẽ giảm chính sách kích thích khi các nền kinh tế đã có bước cải thiện. Lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng cũng góp phần củng cố đồng USD, qua đó đẩy giá vàng đi xuống. Tuy nhiên, “đồng bạc xanh” vẫn đang hướng đến tháng giảm giá mạnh nhất kể từ tháng 3/2016.
Tuần trước đồng tiền này đã phải chịu áp lực giảm giá sau khi Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin cho biết ông “hoan nghênh” một đồng USD yếu, dù sau đó Tổng thống Donald đã nói ông muốn thấy đồng tiền này diễn biến theo chiều hướng ngược lại.
Giới đầu tư hiện đang đón đợi số liệu việc làm của Mỹ và kết quả cuộc họp chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ diễn ra trong tuần này.
Ông Walter Pehowich, Phó Chủ tịch điều hành các dịch vụ đầu tư của Dillon Gage Metals, cho rằng giá vàng đang chịu áp lực giảm giá do lợi suất trái phiếu chính phủ các nước hầu hết đều tăng lên, như Đức, Italy,...
Liên quan đến thị trường vàng, số liệu của Cơ quan Thống kê Hong Kong cho thấy tổng lượng vàng nhập khẩu ròng của Trung Quốc thông qua thị trường Hong Kong trong năm ngoái đạt 628,204 tấn, giảm 18,5% so với mức tương ứng 770,759 tấn của năm 2016; và cũng giảm khoảng 12,2% trong riêng tháng 12/2017.
Chuyên gia phân tích Carsten Fritsch từ Commerzbank lý giải rằng, nguyên nhân chủ yếu khiến nhập khẩu vàng của Trung Quốc giảm vào năm ngoái do Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc không tham gia hoạt động mua vàng. Điều này khiến lượng vàng nhập khẩu của Trung Quốc qua cửa ngõ Hong Kong giảm từ mức 35,554 tấn của tháng 11/2017, xuống 31,221 tấn vào tháng 12/2017.
Dick Poon, Tổng giám đốc của Heraeus Precious Metals (trụ sở tại Hong Kong) cho biết, việc giá vàng tăng vào tháng 12/2017 đã làm giảm nhu cầu tiêu thụ kim loại quý này, trong khi giới đầu tư cũng thường có xu hướng giảm bớt hàng tồn kho vào giai đoạn cuối năm.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giao tháng 3 tăng 0,31 US cent tương đương 2,3% lên 13,67 US cents/lb, mức tăng mạnh nhất trong vòng 6 tuần. Trong phiên có lúc giá lên 13,7 US cent. Đường thô đang tiến tới tháng 1 giảm giá khoảng 10%, giảm mạnh nhất kể từ tháng 3/2017, do các nhà đầu tư bán ra mạnh trong bối cảnh nguồn cung dư thừa trên toàn cầu.
Đường trắng giao cùng kỳ hạn giá tăng 5,8 USD tương đương 1,6% lên 361,40 USD/tấn.
Cà phê cũng trong xu hướng giảm giá. Với hợp đồng giao tháng 3, arabica giảm 0,2 US cent tương đương 0,2% xuống 1,2495 USD/lb, trong khi đó robusta giảm 10 USD tương đương 0,6% xuống 1.757 USD/tấn.
Xuất khẩu cà phê Việt Nam trong tháng 1 ước tính tăng 25,1% so với cùng kỳ năm trước.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/-(%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

65,56

-0,58

-0,9%

Dầu Brent

USD/thùng

69,46

-1,06

-1,5%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

44.230,00

-570,00

-1,27%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,18

+0,01

+0,44%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

193,42

-0,07

-0,04%

Dầu đốt

US cent/gallon

209,74

-0,74

-0,35%

Dầu khí

USD/tấn

620,25

+1,25

+0,20%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

59.570,00

-590,00

-0,98%

Vàng New York

USD/ounce

1.342,40

-2,70

-0,20%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.676,00

-32,00

-0,68%

Bạc New York

USD/ounce

17,14

+0,01

+0,05%

Bạc TOCOM

JPY/g

60,10

-0,60

-0,99%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.004,40

-2,20

-0,22%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.088,69

-0,63

-0,06%

Đồng New York

US cent/lb

320,30

+0,90

+0,28%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.085,00

0,00

0,00%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.225,00

-32,00

-1,42%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.550,00

+72,00

+2,07%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.925,00

+325,00

+1,50%

Ngô

US cent/bushel

359,25

+0,50

+0,14%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

453,00

+3,75

+0,83%

Lúa mạch

US cent/bushel

270,00

+0,50

+0,19%

Gạo thô

USD/cwt

12,40

-0,04

-0,32%

Đậu tương

US cent/bushel

991,75

+0,25

+0,03%

Khô đậu tương

USD/tấn

337,50

+0,10

+0,03%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,84

-0,03

-0,09%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

1.946,00

-40,00

-2,01%

Cacao Mỹ

USD/tấn

124,95

-0,20

-0,16%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

13,67

+0,31

+2,32%

Đường thô

US cent/lb

152,60

+2,80

+1,87%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

78,36

-2,12

-2,63%

Bông

US cent/lb

--

--

--

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

477,80

-9,50

-1,95%

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

199,80

+1,70

+0,86%

Cao su TOCOM

JPY/kg

1,39

+0,01

+0,94%

Ethanol CME

USD/gallon

1.946,00

-40,00

-2,01%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg