Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm giữa bối cảnh dự trữ dầu mỏ của Mỹ giảm thấp hơn dự kiến khiến thị trường càng lo ngại về đà tăng trưởng của kinh tế toàn cầu.
Kết thúc phiên, dầu Brent Biển Bắc giảm 0,81% xuống 63,3 USD/thùng, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giảm 0,94% xuống 56,89 USD/thùng, ngược với đà tăng 1,9% ghi nhận trong phiên trước.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) ngày 3/7/2019 công bố số liệu cho thấy dự trữ dầu mỏ của nước này giảm 1,1 triệu thùng trong một tuần, thấp hơn nhiều so với con số dự báo 5 triệu thùng, do các nhà máy lọc dầu Mỹ giảm nhu cầu đối với nguyên liệu, gây lo ngại nhu cầu tiêu thụ dầu của Mỹ yếu đi do tăng trưởng kinh tế sa sút.
Tuy nhiên, sản lượng dầu thô toàn cầu cũng sẽ bị giới hạn sau khi Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và các đồng minh ngày 2/7/2019 đã nhất trí gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng khai thác "vàng đen" tới tháng 3/2020.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm bởi các nhà đầu tư tranh thủ bán kiếm lời trước khi Mỹ công bố số liệu về tỷ lệ thất nghiệp trong các lĩnh vực phi nông nghiệp. Chứng khoán lên điểm cũng góp phần khiến cho vàng giảm giá.
Cuối phiên, giá vàng giao ngay giảm 0,3% xuống 1.414,21 USD/ounce, trong khi vàng kỳ hạn tháng 7/2019 giảm 0,2% xuống 1.417,4 USD/ounce, còn kỳ hạn tháng 8/2019 kết thúc ở 1.420,9 USD/ounce.
Lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ xuống mức thấp nhất nhiều năm do đồn đoán Cục Dự trữ liên bang Mỹ sẽ cắt giảm lãi suất sau kỳ họp tháng này, và các ngân hàng trung ương khác sẽ đồng loạt thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ, đẩy chứng khoán thế giới lên mức cao nhất 18 tháng.
"Chúng tôi cho rằng các ngân hàng trung ương sẽ giảm lãi suất vào cuối năm nay, có nghĩa là giá vàng sẽ còn tiếp tục tăng", chiến lược gia hàng hóa của ngân hàng China International Global Commodities (UK), ông Xiao Fu cho biết.
Bảng phân tích kỹ thuật cũng cho thấy giá vàng giao ngay có thể chạm mức kháng cự 1.435 USD/ounce, sau đó tăng tiếp lên 1.443 – 1.456 USD, nhà phân tích kỹ thuật Wang Tao của Reuters cho biết.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,2% xuống 15,26 USD/ounce, bạch kim vững ở 836,55 USD/ounce trong khi palađi giảm 0,7% xuống 1.560 USD/ounce dù phiên trước đó đã lập kỷ lục cao nhất 3 tháng là 1.574 USD/ounce.
Thời gian gần đây, giá vàng thế giới đang đi lên mạnh mẽ và ghi nhận mức cao trong gần 6 năm trở lại đây. Một số dự báo cho rằng vàng sẽ còn tăng hơn nữa, thậm chí vượt qua 1.500 USD/ounce.
Mới đây, khi trả lời Kitco News, ông Chris Weston- đứng đầu bộ phận nghiên cứu tại Pepperstone Group - cho biết giá vàng sẽ lên đến 1.520 USD/ounce trong vòng 12 – 15 tháng tới. Đồng USD chịu nhiều sức ép, bên cạnh việc các ngân hàng trung ương trên thế giới sẽ nới lỏng tiền tệ (dù hiện tại chưa có nhiều tín hiệu), sẽ là yếu tố hỗ trợ tích cực đối với tài sản này.
Dẫu vậy ông vẫn lưu ý trước mắt cần theo dõi các yếu tố cơ bản và kỹ thuật để xác định rõ hơn về xu hướng của kim loại quý này.
Chuyên gia phân tích kỹ thuật Jim Wyckoff của Kitco cũng tin rằng nhu cầu ngày càng tăng để phòng ngừa rủi ro, kết hợp với các yếu tố kỹ thuật đã đẩy giá vàng tăng trong phiên giao dịch ngày 2/7 và xu hướng sẽ còn tăng hơn nữa.
Trong phiên giao dịch ngày hôm qua, giá vàng đã tăng mạnh gần 2% lên 1.413,7 USD/ounce. Đà tăng tiếp diễn trong ngày hôm nay 3/7 trên thị trường châu Á khi có lúc vàng đã lên trên 1.433 USD/ounce, trước khi điều chỉnh về quanh 1.424 USD/ounce vào lúc 10h20 theo giờ Việt Nam. Đây là các mức cao gần với đỉnh 6 năm đạt được trong tuần trước.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá kẽm đã chạm mức thấp nhất 2 tuần do sản lượng kẽm của Trung Quốc tăng. Trên sàn London, kẽm giao sau 3 tháng giảm 1% xuống 2.425 USD/tấn, và vẫn có nguy cơ giảm tiếp, có thể lặp lại mức thấp nhất 5,5 tháng là 2.412 USD/tấn.
Kẽm đã mất hơn 30% giá trị từ mức cao chạm tới hồi đầu năm ngoái do căng thẳng thương mại Mỹ - Trung gây lo ngại nhu cầu sẽ sụt giảm, và thị trường có thể sắp chấm dứt tình trạng khan hiếm nguồn cung.
Sản lượng kẽm tinh chế của Trung Quốc tháng 5/2019 đã tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, đạt 480.000 tấn. Sản lượng kẽm toàn cầu vào khoảng 13,5 triệu tấn mỗi năm.
Giá quặng sắt trên thị trường Trung Quốc giảm mạnh trong ngày 4/7/2019 sau 5 phiên tăng liên tiếp - chạm mức cao nhất hơn 5 năm.
Quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Đại Liên trong phiên vừa qua có lúc giảm 5,1% xuống 856 CNY (124,54 USD)/tấn, trước khi kết thúc ở 868 CNY, giảm 3,8% so với phiên trước.
Giá quặng sắt tại Đại Liên đã tăng gấp đôi trong năm nay do lượng quặng lưu giữ tại các cảng biển trên toàn Trung Quốc giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm 2017, do xuất khẩu từ Australia và Brazil sụt giảm, trong khi nhu cầu tại Trung Quốc tăng lên. Dự báo giá quặng sắt sẽ tiếp tục được hỗ trợ bởi giá thép Trung Quốc cao kỷ lục nhiều năm.
Phân tích kỹ thuật cho thấy giá quặng sắt giao ngay có thể sẽ còn tăng tiếp lên chạm mức kháng cự 132,1 – 134 USD/tấn trong tuần tới. Một khi đã phá vỡ ngưỡng đó thì giá sẽ hướng đến mốc 147,5 USD/tấn. Ngày 3/7/2019, quặng sắt giao ngay tới Trung Quốc (hợp đồng tham chiếu) đạt mức cao nhất kể từ đầu 2014 là 126,5 USD/tấn.
Biến động thời tiết và một số vấn đề khác đã khiến công ty khai thác quặng sắt lớn nhất thế giới - ở Australia – hạ mức dự báo về sản lượng và xuất khẩu trong năm nay, giữa lúc nguồn cung từ Brazil sụt giảm sau khi hãng sản xuất hàng đầu là Vale ngừng hoạt động. Tuy nhiên, từ tháng 6 thì xuất khẩu từ Australia và Brazil đã hồi phục dần.

Trên thị trường nông sản, giá đường trắng giao tháng 8/2019 cũng tăng 0,1 USD tương đương 0,03% lên 320,3 USD/tấn. Ấn Độ thiếu mưa đang tác động tích cực lên giá đường. Tuy nhiên, thị trường đường thế giới vẫn có nguy cơ thừa cung.

Giá cacao tăng giá do thiếu chắc chắn về thành công của Bờ Biển Ngà và Ghana trong việc ấn định giá cacao ở các hợp đồng kỳ hạn. Kết thúc phiên vừa qua, cacao kỳ hạn tháng 9/2019 tăng 40 GBP, tương đương 2,2%, lên 1.848 GBP/tấn.
Giá cà phê robusta trên sàn London tăng 20 USD tương đương 1,4% lên 1.474 USD/tấn vào cuối phiên vừa qua do lo ngại sương lạnh ở nước sản xuất cà phê số 1 thế giới là Brazil.
Tại Việt Nam, giá cà phê tuần này vững trong bối cảnh giao dịch không sôi động vì người trồng cà phê đã bán gần hết số hàng dự trữ.
Nông dân ở Tây Nguyên chào bán cà phê nhân xô giá 35.000 đồng (1,51 USD)/kg, không thay đổi so với tuần trước. Trong khi đó, cà phê robusta 5% đen & vỡ giá cộng 90 USD/tấn so với hợp đồng kỳ hạn tháng 11/2019 trên sàn London, so với mức cộng 110 – 120 USD/tấn cách đây một tuần. Niên vụ cà phê 2018/19 sẽ kết thúc vào cuối tháng 9/2019, nông dân sẽ bắt đầu thu hoạch vụ mới từ tháng 10.
Trong khi đó tại Indonesia, cà phê robusta loại 4 (80 hạt lỗi) chào giá cộng 180 USD/tấn so với hợp đồng giao tháng 9/2019 trên sàn London, không thay đổi so với cách đây một tuần. Xuất khẩu cà phê từ Lampung trong tháng 6/2019 giảm 53% so với cùng kỳ năm trước, xuống 3.542,4 tấn.
Số liệu từ Ủy ban Cà phê Quốc tế cho thấy xuất khẩu cà phê toàn cầu trong tháng 5/2019 tăng 19,4% so với một năm trước đó.
Giá cao su trên thị trường Tokyo giảm xuống mức thấp nhất 3 tháng do hoạt động bán mạnh bởi lo ngại nguồn cung dư thừa nếu nhu cầu sụt giảm do căng thẳng thương mại Mỹ - Trung.
Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 12/2019 trên sàn TOCOM giảm 1,9 JPY, tương đương 1%, xuống 182,7 JPY (1,69 USD)/kg.
Người phụ trách mảng nghiên cứu của Nissan Securities, Hiroyuki Kikukawa, nhận định, nếu giá giảm xuống dưới ngưỡng 180 JPY thì hoạt động bán tháo sẽ còn diễn ra mạnh hơn nữa.
Trong khi đó, giá cao su tại Thượng Hải tăng do giá dầu đi lên ở phiên liền trước. Hợp đồng giao tháng 9/2019 trên sàn này tăng 15 CNY lên 11.260 CNY (1.638 USD)/tấn, trong phiên có lúc đạt mức cao nhất kể từ 2/4/2019 là 182 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

 

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

56,89

-0,94

-0,77%

Dầu Brent

USD/thùng

63,30

-0,52

-0,81%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

39.660,00

-190,00

-0,48%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,29

0,00

-0,22%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

189,72

-1,95

-1,02%

Dầu đốt

US cent/gallon

188,90

-0,97

-0,51%

Dầu khí

USD/tấn

574,75

+1,00

+0,17%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.390,00

-220,00

-0,38%

Vàng New York

USD/ounce

1.424,50

+3,60

+0,25%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.894,00

+6,00

+0,12%

Bạc New York

USD/ounce

15,37

+0,03

+0,19%

Bạc TOCOM

JPY/g

52,90

-0,20

-0,38%

Bạch kim

USD/ounce

836,65

+1,80

+0,22%

Palađi

USD/ounce

1.563,90

-1,10

-0,07%

Đồng New York

US cent/lb

268,00

-0,30

-0,11%

Đồng LME

USD/tấn

5.920,00

+2,00

+0,03%

Nhôm LME

USD/tấn

1.807,00

+17,00

+0,95%

Kẽm LME

USD/tấn

2.425,00

-24,00

-0,98%

Thiếc LME

USD/tấn

18.350,00

+40,00

+0,22%

Ngô

US cent/bushel

441,25

+15,25

+3,58%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

514,00

+10,75

+2,14%

Lúa mạch

US cent/bushel

288,00

-0,50

-0,17%

Gạo thô

USD/cwt

11,40

+0,13

+1,15%

Đậu tương

US cent/bushel

908,75

+10,00

+1,11%

Khô đậu tương

USD/tấn

315,10

+2,10

+0,67%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,66

+0,40

+1,42%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

448,70

-1,70

-0,38%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.433,00

-39,00

-1,58%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

113,65

0,00

0,00%

Đường thô

US cent/lb

12,54

0,00

0,00%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

100,80

+0,55

+0,55%

Bông

US cent/lb

67,25

0,00

0,00%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

383,20

-7,90

-2,02%

Cao su TOCOM

JPY/kg

181,30

-1,40

-0,77%

Ethanol CME

USD/gallon

1,53

+0,03

+2,13%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters