Trên thị trường năng lượng, giá dầu duy trì quanh mức cao nhất kể từ tháng 5/2015 trong bối cảnh chịu tác động từ những thông tin trái chiều, một mặt lo ngại về tình hình chính trị ở một số quốc gia OPEC; mặt khác ảnh hưởng từ xu hướng tăng sản lượng dầu của Mỹ.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu Brent giao tháng 3/2018 tăng 16 US cent, tương đương 0,2%, lên 67,78 USD/thùng; dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 2/2018 tăng 29 US cent, tương đương 0,5%, lên 61,73 USD/thùng.
Tuần trước, giá dầu Brent kỳ hạn và WTI kỳ hạn lần lượt đạt lên 68,27 USD/thùng và 62,21 USD/thùng, đều là các mức cao nhất kể từ tháng 5/2015.
Các cuộc biểu tình tiếp diễn tại Iran và 11 hoàng thân của Saudi Arabia đã bị bắt giữ sau khi họ tụ tập tại một cung điện hoàng gia ở thủ đô Riyadh nhằm phản đối các biện pháp khắc khổ như ngừng thanh toán hóa đơn dịch vụ của các hoàng thân này. Tuy vậy, triển vọng sản lượng dầu của Mỹ tiếp tục tăng trong bối cảnh giá dầu mạnh lên trong thời gian gần đây vẫn khiến giới đầu tư thận trọng trong giao dịch.
Theo số liệu của công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes, số lượng giàn khoan hoạt động tại Mỹ đã giảm 5 giàn trong tuần kết thúc vào ngày 5/1 xuống còn 742 giàn. Tuy nhiên, sản lượng dầu của Mỹ dự đoán sẽ tăng lên trên 10 triệu thùng/ngày, chủ yếu do sản lượng của các nhà khai thác dầu đá phiến gia tăng.
Về triển vọng giá trong những ngày tới, chuyên gia Stephen Innes, người đứng đầu trung tâm giao dịch Asia/Pacific thuộc công ty môi giới Oanda, Singapore cho rằng cuộc khủng hoảng ở Trung Đông vẫn sẽ là trọng tâm thu hút sự quan tâm của các thị trường dầu mỏ, và đây có thể là nhân tố tiềm ẩn đẩy giá dầu tăng cao.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm do USD tăng so với EUR và giới đầu tư đặt cược vào khả năng FED sẽ tiếp tục nâng lãi suất sau số liệu việc làm vừa được công bố gần đây.
Giá vàng giao ngay giảm 0,1% xuống còn 1.318,84 USD/ounce, trong khi giá vàng giao tháng 2/2018 giảm 1,9 USD, tương đương 0,1% và khép phiên ở mức 1.320,40 USD/ounce.
Đồng USD đã tăng giá 0,5% so với EUR, qua đó tạo áp lực đẩy giá vàng đi xuống. Bên cạnh đó, số liệu việc làm được Bộ Lao động Mỹ công bố mới đây cho thấy tốc độ tăng trưởng việc làm trong tháng 12/2017 của nước này chậm hơn dự kiến giữa bối cảnh lực lượng lao động trong lĩnh vực bán lẻ giảm sút. Tuy nhiên, mức tăng lương hàng tháng nhích lên đã cho thấy thể trạng "khỏe mạnh" của thị trường lao động Mỹ, qua đó có thể mở đường cho FED nâng lãi suất vào tháng 3/2018. Thị trường cũng đang chờ đợi số liệu về chỉ số giá tiêu dùng (CPI) sẽ được công bố trong tuần này. Lạm phát của Mỹ được dự đoán sẽ tăng 0,2% trong tháng 12 vừa qua sau mức tăng 0,1% được ghi nhận trong tháng trước đó.
Giá vàng luôn nhạy cảm với chính sách tiền tệ của Mỹ, do lãi suất tăng sẽ làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng, đồng thời làm đồng USD tăng giá khiến kim loại quý này trở nên đắt đỏ hơn đối với người mua nắm giữ các đồng tiền khác.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,7% xuống còn 17,11 USD/ounce, trong khi giá bạch kim được giao dịch ở mức 971,40 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô và cà phê giảm do hoạt động bán kiếm lời.
Đường thô giao tháng 3 giá giảm 0,3 US cent tương đương 2% xuống 14,78 US cent/lb. Đường trắng giao cùng kỳ hạn giá giảm 5,8 USD tương đương 1,5% xuống 390,90 USD/tấn.
Cà phê arabica giao tháng 3 giá giảm 3,3% tương đương 2,6% xuống 1,2515 USD/lb, trong phiên có lúc giá chỉ 1,243 USD. Robusta cùng kỳ hạn giá giảm 38 USD tương đương 2,2% xuống 1.686 USD/tấn, chỉ cao hơn chút ít so với mức thấp nhất hồi cuối tháng 6.
Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/-(%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

61,73

+0,29

+0,5%

Dầu Brent

USD/thùng

67,78

+0,16

+0,2%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

45.000,00

+40,00

+0,09%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,84

+0,01

+0,18%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

180,36

+1,18

+0,66%

Dầu đốt

US cent/gallon

205,32

+0,78

+0,38%

Dầu khí

USD/tấn

605,75

+3,50

+0,58%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

60.000,00

+10,00

+0,02%

Vàng New York

USD/ounce

1.319,10

-1,30

-0,10%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.755,00

-25,00

-0,52%

Bạc New York

USD/ounce

17,13

-0,02

-0,11%

Bạc TOCOM

JPY/g

62,00

-0,50

-0,80%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

966,20

-6,65

-0,68%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.100,34

-1,90

-0,17%

Đồng New York

US cent/lb

323,15

+0,75

+0,23%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.125,00

+4,00

+0,06%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.175,00

-27,50

-1,25%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.386,00

+32,00

+0,95%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.000,00

+25,00

+0,13%

Ngô

US cent/bushel

347,50

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

427,00

-0,75

-0,18%

Lúa mạch

US cent/bushel

250,00

+1,50

+0,60%

Gạo thô

USD/cwt

11,99

+0,10

+0,84%

Đậu tương

US cent/bushel

966,75

0,00

0,00%

Khô đậu tương

USD/tấn

320,90

-0,60

-0,19%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33,55

+0,01

+0,03%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

494,80

-1,60

-0,32%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.914,00

+19,00

+1,00%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

125,15

-3,30

-2,57%

Đường thô

US cent/lb

14,78

-0,30

-1,99%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

138,65

+0,65

+0,47%

Bông

US cent/lb

78,14

+0,13

+0,17%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

459,90

+0,80

+0,17%

Cao su TOCOM

JPY/kg

205,30

+0,50

+0,24%

Ethanol CME

USD/gallon

1,31

-0,01

-0,76%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg