Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng tuần thứ 2 liên tiếp mặc dù giảm trong phiên cuối tuần do nhà đầu tư bán chốt lời.

Đóng cửa phiên giao dịch cuối tuần, dầu thô ngọt nhẹ (WTI) kỳ hạn giao tháng 7/2016 trên sàn New York giảm 26 US cent, tương đương 0,5%, xuống 48,41 USD/thùng. Tính chung cả tuần giá tăng 3,3% và tăng tổng cộng 6,9% trong 2 tuần qua. Dầu Brent cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 9 cent, tương đương 0,2%, xuống 48,72USD/thùng. Cả tuần giá tăng 1,9% và tăng 7,4% trong 2 tuần qua.
Sự gián đoạn nguồn cung tại nhiều khu vực trên thế giới đã thúc đẩy đà tăng của giá dầu trong 2 tuần gần đây. Tại Nigeria, các cuộc xung đột vũ trang đã khiến xuất khẩu dầu thô của nước này giảm xuống dưới 1,4 triệu thùng/ngày, thấp nhất trong hơn 22 năm qua. Trong khi đó, tại Canada, cháy rừng khiến sản lượng dầu thô giảm 1 triệu thùng/ngày.
Tuy nhiên, đồng USD mạnh lên cản trở đà tăng giá. Phiên cuối tuần, chỉ số Đôla Wall Street Journal, theo dõi USD với 16 đồng tiền trong giỏ tiền tệ, tăng 0,1%, đưa đồng USD lên cao nhất hơn 3 tuần so với yên và ghi nhận tuần thứ 3 tăng liên tiếp. Đồng bạc xanh mạnh lên khiến giá dầu trở nên đắt đỏ hơn đối với khách hàng giao dịch bằng ngoại tệ.
Ngoài ra, hôm thứ Sáu 20/5, hãng dịch vụ giếng dầu Baker Hughes cho biết, số giàn khoan của Mỹ trong tuần kết thúc vào 20/5 không đổi. Hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí tại Mỹ giảm mạnh do giá dầu lao dốc khiến nhiều công ty phải cắt giảm chi phí đầu tư. Một số nhà phân tích cảnh báo rằng đà tăng gần đây của giá dầu, tăng hơn 80% kể từ giữa tháng 2, có thể khiến một số sản xuất đưa thêm một số giếng dầu vào hoạt động.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm tuần thứ 3 liên tiếp do đồn đoán Fed sẽ nâng lãi suất vào tháng tới.
Kết thúc phiên cuối tuần, giá vàng giao ngay giảm 0,2% xuống 1.252,1 USD/ounce, cả tuần giá giảm 1,6%. Vàng giao tháng 6/2016 giảm 1,9 USD, tương ứng 0,2%, xuống 1.252,9 USD/ounce.
Chủ tịch Fed New York William Dudley hôm thứ Năm 19/5 cho biết, rất nhiều quan chức Fed nhận định thị trường đang đánh giá không đúng mức khả năng thắt chặt chính sách tiền tệ của Fed.
Bình luận này được đưa ra một ngày sau khi biên bản họp chính sách tháng 4 của Fed cho thấy các nhà hoạch định chính sách nhận thấy việc nâng lãi suất vào tháng 6 là phù hợp, đẩy giá vàng xuống thấp nhất 3 tuần ở 1.244 USD/ounce.
Giá vàng rất nhạy cảm với lãi suất vì lãi suất cao hơn sẽ làm tăng chi phí cơ hội nắm giữ tài sản phi lãi suất này. Từ đầu năm đến nay, giá vàng đã tăng 18% khi giới đầu tư đặt cược Fed sẽ giảm lộ trình nâng lãi suất.
Trong số các kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 0,2% lên 16,51 USD/ounce, giá bạch kim tăng 1,05% lên 1.020,13 USD/ounce và giá palladium tăng 0,6% lên 557,75 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá khô đậu tương tăng do lo ngại về triển vọng sản lượng của Argentina kích thích hoạt động mua vào.
Khô đậu tương trên sàn giao dịch Chicago vọt lên mức cao kỷ lục 18 tháng trong phiên giao dịch cuối tuần bửoi lo ngại xuất khẩu từ Argentina sụt giảm. Đậu tương và ngô cũng tăng do nguyên nhân tương tự.
Tính từ đầu tháng 4 tới nay, khô đậu tương đã tăng giá 45%. Mưa lớn ở Argentina gây lo ngại về sản lượng và chất lượng của nước xuất khẩu gần ½ khô đậu tương thế giới này.
Cà phê đảo chiều tăng trong phiên giao dịch cuối tuần. Trên sàn London, robusta tăng khoảng 19-22 USD/tấn, trong khi trên sàn New York, arabica tăng khoảng 0,7-0,75 US cent/lb.
Trong báo cáo tháng 4/2016, Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO) cho biết, giá cà phê Arabica và Robusta diễn biến trái chiều trong tháng 4 với giá Arabica giảm sau khi tăng trong tháng 3 trong khi giá Robusta tăng lên mức bình quân cao nhất kể từ tháng 11/2015.
ICO ước tính tiêu thụ cà phê tăng trưởng ổn định ở 2%/năm, theo đó, tiêu thụ cà phê toàn cầu đạt 152,149 triệu bao/năm, trong đó tiêu thụ của các nước sản xuất cà phê là 47,292 triệu bao và các nước tiêu dùng 104,857 triệu bao.
Xuất khẩu cà phê toàn cầu trong tháng 3/2016 đạt 10,4 triệu bao, tăng 1% so với tháng 3/2015, trong đó, xuất khẩu Arabica tăng 3% trong khi xuất khẩu Robusta giảm 2%. Xuất khẩu cà phê trong nửa đầu niên vụ 2015-2016 ước tăng 1,6% lên 55,5 triệu bao, cho thấy thị trường vẫn có nguồn cung dồi dào.
Giá đường tăng lên mức cao kỷ lục kể từ tháng 7/2014 do các quỹ đầu cơ tiếp tục mua vào bởi lo ngại về khả năng thiếu cung.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 14/5

Giá 21/5

21/5 so với 20/5

14/5 so với 13/5 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

46,21

47,75

-0,41

-0,85%

Dầu Brent

USD/thùng

47,83

48,72

-0,09

-0,18%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

30.720,00

31.960,00

-310,00

-0,96%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,10

2,06

+0,02

+1,13%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

158,82

163,56

+0,17

+0,10%

Dầu đốt

US cent/gallon

140,31

149,14

+0,14

+0,09%

Dầu khí

USD/tấn

418,75

440,75

+11,25

+2,62%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

42.170,00

43.210,00

-590,00

-1,35%

Vàng New York

USD/ounce

1.272,70

1.252,90

0,00

0,00%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.422,00

4.413,00

-8,00

-0,18%

Bạc New York

USD/ounce

17,13

16,55

+0,02

+0,11%

Bạc TOCOM

JPY/g

59,40

58,20

0,00

0,00%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.051,65

1.022,70

+8,00

+0,79%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

593,03

560,95

+1,57

+0,28%

Đồng New York

US cent/lb

207,40

205,65

+0,10

+0,05%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

4.627,50

4.578,00

-2,00

-0,04%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.535,50

1.547,00

+2,00

+0,13%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

1.889,00

1.866,00

+6,00

+0,32%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

16.655,00

16.450,00

-60,00

-0,36%

Ngô

US cent/bushel

390,75

394,50

+4,50

+1,15%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

474,75

467,75

-1,00

-0,21%

Lúa mạch

US cent/bushel

195,25

189,50

+1,25

+0,66%

Gạo thô

USD/cwt

11,69

11,77

-0,07

-0,63%

Đậu tương

US cent/bushel

1.065,00

1.074,25

+2,75

+0,26%

Khô đậu tương

USD/tấn

363,00

392,70

+14,60

+3,86%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,50

31,27

-0,64

-2,01%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

515,80

526,00

+2,90

+0,55%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.967,00

2.912,00

+19,00

+0,66%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

130,10

124,70

+0,75

+0,61%

Đường thô

US cent/lb

16,74

17,07

+0,37

+2,22%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

145,35

150,10

+1,50

+1,01%

Bông

US cent/lb

60,62

61,67

+0,60

+0,98%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

320,50

307,30

-2,10

-0,68%

Cao su TOCOM

JPY/kg

171,70

162,50

-0,60

-0,37%

Ethanol CME

USD/gallon

1,54

1,60

+0,01

+0,63%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg