Năng lượng: Giá dầu tăng

Phiên cuối tuần, giá dầu thô tăng khá mạnh bởi lạc quan về số liệu việc làm của Mỹ, lệnh trừng phạt của Mỹ đối với xuất khẩu của Venezuela khiến nguồn cung thắt chặt và số lượng các giàn khoan dầu của Mỹ giảm. Kết thúc phiên này, dầu Brent tăng 1,91 USD tương đương 3,14% lên 62,75 USD/thùng, tính chung cả tuần tăng khoảng 1,9%; dầu ngọt nhẹ (WTI) tăng 1,47 USD tương đương 2,73% lên 55,26 USD/thùng, tính chung cả tuần tăng khoảng 3%.
Giá dầu tăng sau khi công ty dịch vụ năng lượng General Electric Co's GE.N Baker Hughes cho biết trong vòng 5 tuần qua có tới 4 tuần các công ty năng lượng Mỹ đã cắt giảm số lượng giàn khoan dầu, đưa số lượng giàn khoan dầu xuống mức thấp nhất trong 8 tháng. Số lượng giàn khoan dầu trong tháng 1/2019 giảm mạnh nhất trong 1 tháng kể từ tháng 4/2016.
Ngoài ra, giá dầu còn được hỗ trợ bởi chứng khoán phố Wall tăng sau số liệu việc làm của Mỹ bất ngờ tăng mạnh và Washington áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với công ty PDVSA Venezuela khiến nguồn cung thắt chặt.
Kim loại quý: giá vàng tăng mạnh nhất kể từ đầu năm
Phiên cuối tuần, giá vàng giảm do số việc làm của Mỹ tăng mạnh. Tuy nhiên tính chung cả tuần, giá vẫn tăng tuần thứ 2 liên tiếp, do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ phát tín hiệu tạm dừng tăng lãi suất.
Trong phiên này, giá vàng giao ngay giảm 0,2% xuống 1.317,61 USD/ounce, sau khi đạt mức cao nhất 9 tháng trong phiên trước đó (1,326,3 USD/ounce) và vàng giao sau giảm 0,2% xuống 1.322,1 USD/ounce.
Fed thông báo giữ nguyên lãi suất do nhiều yếu tố không thuận lợi, đồng thời phát đi những tín hiệu về khả năng chương trình thắt chặt chính sách tiền tệ của họ có thể sẽ chấm dứt sớm. Fed cũng đã gạt bỏ cam kết "tăng lãi suất từ từ" và nói rằng sẽ "kiên nhẫn" trước khi đưa ra thêm bất kỳ động thái nào về lãi suất.
Các nhà phân tích nhận định triển vọng chung của giá vàng vẫn rất tích cực. Ông Miguel Perez-Santalla, Phó giám đốc trung tâm Heraeus Metal Management tại New York cho rằng thị trường đang chờ đợi diễn biến của các cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc; đồng thời vàng vẫn được coi là nơi trú ẩn an toàn.
Tính từ tháng 8/2018 (thời điểm giá thấp nhất một năm rưỡi) tới nay, giá vàng tăng gần 14%,
chủ yếu do thị trường chứng khoán biến động và kỳ vọng Fed có thể tạm dừng chu kỳ tăng lãi suất.
Về những kim loại quý khác, trong phiên cuối tuần, giá palađi tăng 0,5% lên 1.349,50 USD/ounce, bạch kim tăng 0,2% lên 821 USD/ounce, trong khi bạc giảm 1,2% xuống 15,88 USD/ounce.
Kim loại cơ bản: Giá biến động
Phiên cuối tuần, giá nhôm giảm bởi lo ngại về nguồn cung dư thừa sau khi nhà sản xuất hàng đầu cho biết sẽ tiếp tục sản xuất, trong khi một số kim loại cơ bản chịu áp lực giảm bởi số liệu nhà máy Trung Quốc suy yếu. Giá nhôm kỳ hạn trên sàn London giảm 1,4% xuống 1.883 USD/tấn. Tính chung cả tuần giá nhôm giảm 2%.
Công ty Hongqiao Group 1378.HK của Trung Quốc cho biết, sẽ dần dần khởi động lại sản xuất sau một số cưỡng chế hạn chế sản xuất của chính phủ đã hết hiệu lực. Hoạt động nhà máy Trung Quốc giảm mạnh nhất trong gần 3 năm trong tháng 1/2019, do số lượng các đơn hàng mới giảm và sản lượng giảm, gia tăng lo ngại sự chậm lại trong nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới ngày càng tăng. Đồng thời, giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn London giảm 0,5% xuống 6.139 USD/tấn, sau khi đạt mức cao nhất 7 tuần trong phiên trước đó. Song tính chung cả tuần, giá đồng tăng 1,3%.
Giá quặng sắt tại Trung Quốc tăng lên mức cao nhất 22 tháng sau 7 ngày tăng liên tiếp, do nguồn cung gián đoạn. Quặng sắt kỳ hạn trên sàn Đại Liên tăng 6,6% lên 623 CNY (92,46 USD)/tấn, tăng phiên thứ 7 liên tiếp và hướng tới tuần tăng thứ 5 liên tiếp. Tính từ đầu năm đến nay, giá quặng sắt tăng hơn 20%.
Dự báo thị trường quặng sắt sẽ thiếu hụt trong năm nay, sau động thái cắt giảm sản lượng bởi công ty khai thác quặng sắt hàng đầu – Vale, Brazil.
Đồng thời, giá than luyện cốc kỳ hạn tăng 4,2% lên 1.290 CNY/tấn, cao nhất 17 tháng. Giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải tăng 1,6% lên 3.754 CNY/tấn và giá thép cuộn cán nóng tăng 1,5% lên 3.648 CNY/tấn. Giá thép tăng sau báo cáo cho thấy rằng, thành phố sản xuất thép hàng đầu Trung Quốc – Đường Sơn – sẽ áp đặt các hạn chế sản xuất đối với ngành công nghiệp nặng bao gồm thép và than cốc từ tháng 4-9/2019, để cải thiện chất lượng không khí.
Hiệp hội Thép Thế giới cho biết tổng sản lượng thép thô trên toàn thế giới đã đạt 1,88 tỷ tấn năm 2018, tăng 4,6% so với năm 2017. Trong đó Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng đầu, đạt 928,3 triệu tấn năm 2018 (tăng 6,6%) và chiếm tỷ trọng 51,3% tổng sản lượng thép toàn cầu, tăng nhẹ so với con số 50,3% năm 2017.
Xếp sau Trung Quốc lần lượt là Ấn Độ (106,5 triệu tấn), Nhật Bản (104,23 triệu tấn) và Mỹ (86,7 triệu tấn). Ấn Độ từng đứng thứ 3 trong năm 2017, nhưng đã vượt qua Nhật Bản, vươn lên thứ hai trong năm 2018. Sản lượng của Hàn Quốc đạt 72,5 triệu tấn, tăng 2% và chiếm 4% tổng sản lượng thép toàn cầu. Hồi năm 2017, Hàn Quốc xếp thứ 6 thế giới, nhưng đã vượt qua Nga (71,7 triệu tấn) vươn lên thứ 5 trong năm 2018. 
Nông sản: Giá đường và cà phê giảm
Phiên cuối tuần, giá cà phê giảm do đồng real Brazil suy yếu và có tuần giảm đầu tiên trong 7 tuần, trong khi giá đường giảm. Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 2,2 US cent tương đương 2,1% xuống 1,037 USD/lb, trong phiên có lúc đạt 1,07 USD/lb, cao nhất kể từ ngày 25/1/2019. Tính chung cả tuần, giá cà phê arabica giảm 2,9%, tuần giảm đầu tiên trong 7 tuần. Và giá cà phê robusta giao cùng kỳ hạn giảm 4 USD tương đương 0,3% xuống 1.547 USD/tấn, trong phiên có lúc đạt 1.592 USD/tấn, cao nhất kể từ ngày 3/12/2018.
Đồng thời, giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 0,13 US cent tương đương 1% xuống 12,6 US cent/lb, cũng chịu áp lực giảm bởi đồng real Brazil suy yếu. Song tính chung cả tuần, giá đường thô tăng 1,3%. Giá đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 3,5 USD tương đương 1% xuống 337,8 USD/tấn.
Giá cao su tại Tokyo tăng, theo xu hướng giá cao su tại Thượng Hải tăng, do sản lượng giảm và thị trường kỳ vọng nhu cầu tăng mạnh sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Giá cao su kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn TOCOM tăng 1,2 JPY (0,011 USD) lên 179 JPY/kg và giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn TOCOM tăng 4,4 JPY lên 151,3 JPY/kg. Đồng thời giá cao su kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 95 CNY (14,09 USD) lên 11.420 CNY/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá 26/1

Giá 2/2

2/2 so với 1/2

2/2 so với 1/2 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,69

55,26

+1,47

+2,73%

Dầu Brent

USD/thùng

61,64

62,75

+1,91

+3,14%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.930,00

41.280,00

+1.190,00

+2,97%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,18

2,73

-0,08

-2,84%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

138,94

143,69

+5,93

+4,30%

Dầu đốt

US cent/gallon

189,19

191,27

+3,53

+1,88%

Dầu khí

USD/tấn

568,50

576,75

-5,50

-0,94%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.550,00

57.450,00

+1.180,00

+2,10%

Vàng New York

USD/ounce

1.304,20

1.322,10

-3,10

-0,23%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.563,00

4.628,00

+28,00

+0,61%

Bạc New York

USD/ounce

15.93

-0,14

-0,88%

15,93

Bạc TOCOM

JPY/g

55.70

-0,30

-0,54%

55,70

Bạch kim

USD/ounce

818,18

824,17

+2,17

+0,26%

Palladium

USD/ounce

1.364,03

1.354,64

+11,50

+0,86%

Đồng New York

US cent/lb

272,90

277,30

-1,15

-0,41%

Đồng LME

USD/tấn

6.056,00

6.139,00

-30,00

-0,49%

Nhôm LME

USD/tấn

1.920,00

1.883,00

-27,00

-1,41%

Kẽm LME

USD/tấn

2.673,00

2.777,00

+58,00

+2,13%

Thiếc LME

USD/tấn

20.675,00

20.890,00

+40,00

+0,19%

Ngô

US cent/bushel

380,25

378,25

+1,75

+0,46%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

520,00

524,25

+7,75

+1,50%

Lúa mạch

US cent/bushel

291,00

288,50

+6,00

+2,12%

Gạo thô

USD/cwt

10,67

10,65

+0,04

+0,38%

Đậu tương

US cent/bushel

925,25

917,75

+2,50

+0,27%

Khô đậu tương

USD/tấn

313,90

311,80

+1,80

+0,58%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,03

29,89

-0,28

-0,93%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

488,50

482,40

+0,70

+0,15%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.225,00

2.168,00

0,00

0,00%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

106,80

103,70

-2,20

-2,08%

Đường thô

US cent/lb

12,44

12,60

-0,13

-1,02%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

119,40

122,25

+2,15

+1,79%

Bông

US cent/lb

74,13

73,64

-0,76

-1,02%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

381,50

419,20

+3,00

+0,72%

Cao su TOCOM

JPY/kg

182,20

179,60

+0,60

+0,34%

Ethanol CME

USD/gallon

1,29

1,32

+0,03

+2,09%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg, CafeF