Trên thị trường năng lượng, giá dầu phiên cuối tuần giảm mạnh do số liệu mới nhất cho thấy nguồn cung xăng của Mỹ chạm mốc 241 triệu thùng trong bối cảnh nhu cầu vẫn yếu thể hiện ở việc dự trữ xăng toàn cầu tiếp tục tăng.

Đóng cửa phiên giao dịch cuối tuần, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) kỳ hạn giao tháng 9/2016 trên sàn New York giảm 56 cent, tương ứng 1,3%, xuống 44,19 USD/thùng, thấp nhất kể từ 9/5. Tính chung cả tuần giá dầu WTI giảm 5,3%. Giá dầu Brent giao cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 51 cent, tương đương 1,1%, xuống 45,69 USD/thùng, thấp nhất kể từ 10/5. Cả tuần giá dầu Brent giảm 4%.

Diễn biến giá dầu Brent

Diễn  biến giá dầu WTI

Giá dầu kết thúc tuần ở mức thấp nhất kể từ đầu tháng 5 khi thừa cung sản phẩm lọc dầu và hoạt động khoan dầu của Mỹ tăng mạnh gây lo ngại rằng tình trạng thừa cung thị dầu thô toàn cầu sẽ kéo dài hơn dự đoán.
Dự trữ xăng của Mỹ trong tuần kết thúc vào 15/7 tiếp tục tăng 900.000 thùng lên 241 triệu thùng, tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái, theo số liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA).
Theo số liệu của của Baker Hughes, số giàn khoan của Mỹ trong tuần kết thúc vào 22/7 tăng thêm 14 giàn lên 317 giàn, cao nhất kể từ tháng 3. Số giàn khoan của Mỹ liên tục tăng trong những tuần gần đây sau đợt tăng giá mạnh của gia dầu. Một số nhà phân tích cảnh báo rằng đà tăng của giá dầu có thể “lợi bất cập hại” khi khuyến khích các nhà sản xuất bơm thêm dầu vào thị trường vốn đang thừa cung trầm trọng.
Tại Trung Quốc - nước tiêu thụ dầu thô lớn thứ 2 thế giới - theo số liệu của Tổng cục Hải quan nước này công bố hôm 21/7, xuất khẩu xăng trong tháng 6 lên sát mức kỷ lục ở 1,1 triệu tấn, cao gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái khi các nhà máy lọc dầu tăng cường xuất khẩu nhằm kéo giảm lượng lưu kho khổng lồ.
Tiêu thụ xăng của Trung Quốc trong tháng 6/2016 tăng 120.000 thùng/ngày, theo số liệu của hãng tư vấn Energy Aspects, do doanh số bán xe tăng mạnh và bắt đầu thời kỳ tiêu thụ cao điểm mùa hè. Dù vậy, tăng trưởng tiêu thụ xăng hàng năm vẫn giảm kể từ quý III/2015.
Tại các thị trường khác ở châu Á, sản lượng xăng của Hàn Quốc trong 5 tháng đầu năm 2016 tăng 11%, nhưng tiêu thụ tăng 2,5%. Cùng kỳ, sản lượng xăng của Nhật Bản tăng 2,1% trong khi tiêu thụ lại giảm 0,4%, theo số liệu của BMI Research.
Theo giới phân tích, các nhà máy lọc dầu tại châu Á có thể phải giảm sản lượng do tình trạng thừa cung nhiên liệu kéo giảm lợi nhuận của việc chế biến dầu thô thành sản phẩm lọc dầu.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng cũng giảm trong phiên cuối tuần bởi những số liệu tích cực về kinh tế Mỹ làm gia tăng đồn đoán Fed sẽ nâng lãi suất vào cuối năm nay bất chấp lãi suất trên toàn cầu đang thấp và có xu hướng còn giảm nữa.
Giá vàng giao ngay chốt phiên cuối tuần giảm 0,5% xuống 1.324,66 USD/ounce. Cả tuần giá giảm khoảng 1%. Giá vàng giao tháng 8/2016 trên sàn New York giảm 0,6% xuống 1.323,4 USD/ounce, chủ yếu do nhà đầu tư chốt lời sau đợt tăng giá vừa qua.
USD liên tục tăng trong thời gian gần đây khi số liệu cho thấy thị trường lao động Mỹ và lạm phát tiếp tục cải thiện, làm tăng đồn đoán Fed sẽ nâng lãi suất vào cuối năm nay.
Fed sẽ chờ cho đến quý IV năm nay trước khi nâng lãi suất, có thể vào tháng 12 sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, theo kết quả khảo sát của Reuters.
Trong khi đó, hôm thứ Năm 21/7, Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) đã quyết định giữ nguyên lãi suất ở mức thấp kỷ lục nhằm thúc đẩy tăng trưởng và lạm phát bằng nguồn tín dụng rẻ, đồng thời để ngỏ khả năng tung ra thêm các biện pháp kích thích.
Wang Tao, nhà phân tích kỹ thuật của Reuters dự đoán, giá vàng có thể tái lập ngưỡng hỗ trợ 1.313 USD/ounce.
Giới đầu tư sẽ theo dõi tuyên bố chính sách của Fed, công bố vào tuần tới sau phiên họp chính sách tháng 7. Dự đoán Fed sẽ nâng lãi suất vào tháng 9 tăng lên sau khi số liệu về số nhà mới khởi công xây dựng tại Mỹ được công bố trong tuần này - cho thấy số nhà mới khởi công xây dựng trong tháng 6 tăng 4,8%.

Trong số các kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,6% xuống 19,63 USD/ounce, giá bạch kim mất 0,3% xuống 1.095 USD/ounce và giá palladium giảm 0,7% xuống 677,75 USD/ounce.

Trên thị trường kim loại cơ bản, giá giảm vào phiên cuối tuần do hoạt động bán chốt lời sau những phiên tăng trước đó. Tính chung cả tuần, giá nhìn chung đều tăng. 

Trên thị trường nông sản, giá cà phê đồng loạt giảm trong phiên cuối tuần. Tại London, robusta giảm 27-30 USD/tấn, trong khi đó tại New York, arabica giảm 4,85-4,95 cent/lb.Nhà phân tích Brazil Safras & Mercado - từng ước tính sản lượng cà phê của Brazil niên vụ 2016-2017 đạt 54,9 triệu bao với 42,8 triệu bao Arabica và 12,1 triệu bao Robusta - cho biết, tính đến ngày 19/7, nông dân nước này đã thu hoạch được 64% sản lượng cà phê.
Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá 16/7

Giá 23/7

Giá 23/7 so với 22/7

Giá 23/7 so với 22/7 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

45,95

44,19

-0,56

-1,25%

Dầu Brent

USD/thùng

47,61

45,69

-0,51

-1,10%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

30.300,00

29.000,00

-130,00

-0,45%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,76

2,78

+0,09

+3,16%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

142,20

136,15

+0,65

+0,48%

Dầu đốt

US cent/gallon

139,74

135,70

-1,37

-1,00%

Dầu khí

USD/tấn

413,00

401,00

-12,50

-3,02%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

42.290,00

41.200,00

-40,00

-0,10%

Vàng New York

USD/ounce

1.327,40

1.323,40

-7,60

-0,57%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.480,00

4.484,00

+4,00

+0,09%

Bạc New York

USD/ounce

20,30

19,69

+0,00

+0,01%

Bạc TOCOM

JPY/g

67,80

66,50

-0,30

-0,45%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.091,90

1.082,09

-20,66

-1,87%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

651,00

685,00

+0,17

+0,02%

Đồng New York

US cent/lb

223,35

223,55

-2,30

-1,02%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

4.918,00

4.920,00

-56,00

-1,13%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.669,00

1.611,00

+10,00

+0,62%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.204,00

2.245,00

-9,00

-0,40%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

18.140,00

17.750,00

-100,00

-0,56%

Ngô

US cent/bushel

358,25

341,75

+1,00

+0,29%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

424,75

425,25

+7,50

+1,80%

Lúa mạch

US cent/bushel

203,50

204,00

-0,50

-0,24%

Gạo thô

USD/cwt

10,52

10,41

-0,20

-1,93%

Đậu tương

US cent/bushel

1.057,25

988,25

-24,25

-2,40%

Khô đậu tương

USD/tấn

366,30

341,70

-5,80

-1,67%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,42

30,70

-0,90

-2,85%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

470,00

451,50

-11,10

-2,40%

Cacao Mỹ

USD/tấn

3.065,00

2.886,00

-16,00

-0,55%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

147,55

141,90

-4,95

-3,37%

Đường thô

US cent/lb

19,31

19,59

+0,03

+0,15%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

183,85

180,65

-0,05

-0,03%

Bông

US cent/lb

74,28

72,68

-0,29

-0,40%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

336,20

329,10

-0,80

-0,24%

Cao su TOCOM

JPY/kg

159,00

160,50

-2,30

-1,41%

Ethanol CME

USD/gallon

1,56

1,46

+0,01

+0,97%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg