Chỉ số ICE U.S. Dollar, so sánh đồng bạc xanh với 6 đồng tiền mạnh khác (EUR, JPY, CAD, GBP, SEK, CHF), cuối tuần ở mức 89,085 điểm. Tính cả tuần, chỉ số này giảm 1,6% và là tuần giảm mạnh nhất kể từ tháng 6/2017.
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế thế giới ở Davos, Tổng thống Trump cho rằng nước Mỹ mở cửa đối với kinh doanh và đầu tư từ nước ngoài. Ông không nói thêm về chính sách đồng USD nhưng vẫn khiến đồng bạc xanh tăng giá hôm thứ Năm.
Ngay sau đó, Bộ Thương mại Mỹ công bố số liệu cho thấy tăng trưởng GDP của nước này ở mức 2,6% trong quý 4/2017, thấp hơn mức 3% được MarketWatch khảo sát, và cũng thấp hơn mức 3,2% trong quý 3, điều này khiến USD giảm giá trở lại.
Các quan chức Mỹ đang có những bình luận trái chiều về đồng USD. Và đồng USD thường biến động ngay sau mỗi lời bình luận như vậy.
Năng lượng: Giá dầu tăng trong tuần do USD yếu
Phiên cuối tuần, giá dầu có lúc lên mức cao kỷ lục 3 năm, và kết thúc tăng so với phiên trước đó.
Dầu Brent tăng 10 US cent tương đương 0,1% lên 70,52 USD/thùng, sau khi có lúc lên 70,83 USD, mức cao nhất kể từ 2014; Dầu thô ngọt nhẹ (WTI) tăng 63 US cent, tương đương gần 1% lên 66,14 USD/thùng.
Tính chung cả tuần, giá dầu Brent tăng gần 2,7%, trong khi dầu WTI tăng 4,3%.
Đồng USD yếu góp phần đắc lực đẩy giá dầu tăng trong tuần này. USD đã xuống mức thấp nhất 3 năm so với rổ các đồng tiền chủ chốt. Việc đồng USD giảm sẽ giúp giá dầu rẻ hơn so với các đồng tiền khác, thúc đẩy hoạt động mua vào.
Công ty Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC) mới đây dự báo quốc gia này trong năm 2018 sẽ nhập khẩu 452 triệu tấn dầu, tương đương 9 triệu thùng/ngày và tăng khoảng 600.000 thùng/ngày so với năm 2017. Con số đó thấp hơn so với năm trước nhưng vẫn là một động lực quan trọng đối với nhu cầu dầu thô trên toàn cầu.
Số liệu của Hải quan Trung Quốc cho thấy thị trường nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới này đã mua 8,4 triệu thùng/ngày trong năm 2017, tăng 800.000 thùng/ngày hay 10,1% so với năm trước. (Mức tăng nhập khẩu của Trung Quốc tương đương một nửa mức tăng nhu cầu của toàn thế giới).
Tuy nhiên, thị trường vẫn lo lắng việc sản lượng khai thác của Mỹ liên tục tăng thời gian gần đây do giá dầu đang ở mức cao nhất kể từ tháng 12/2014. Số lượng giàn khoan của Mỹ tuần trước tăng 12 giàn lên 759 giàn - ngưỡng cao nhất kể từ 1/9/2017, theo dữ liệu từ công ty dịch dầu khí Baker Hughes. Sản lượng khai thác dầu của nước này gần tiến đến ngưỡng 10 triệu thùng/ngày khi đạt 9,9 triệu thùng - gần bằng ngưỡng kỷ lục 10,04 triệu thùng/ngày (năm 1970 - thời điểm sản lượng khai thác của Mỹ vượt các cường quốc dầu như Nga và Saudi Arabia).
Kim loại quý: Giá vàng lên mức cao nhất 17 tháng
Phiên giao dịch cuối tuần, giá vàng tiếp tục tăng lên mức cao nhất trong vòng 17 tháng sau báo cáo cho thấy tăng trưởng kinh tế Mỹ chậm lại gây áp lực giảm giá đồng USD.
Vàng giao ngay giá tăng 0,3% lên 1.351,86 USD/ounce, tính chung cả tuần giá tăng 1,5%; vàng giao tháng 2 giảm 10,8 USD tương đương 0,78% xuống 1.352,10 USD/ounce.
Đồng USD yếu đi khiến vàng trở nên rẻ hơn đối với những nhà đầu tư nắm giữ những loại tiền khác. Chứng khoán thế giới tăng giá tuần thứ 10 liên tiếp.
Cả tuần sức khỏe của đồng USD đã tác động lên giá vàng. Nếu USD tăng, vàng sẽ giảm và ngược lại.
Các chuyên gia cho rằng, vàng vẫn còn có cơ hội tăng giá. Vì khi ông Trump quyết định tăng thuế đối với pin năng lượng mặt trời và máy giặt thì Hàn Quốc, một trong những quốc gia xuất khẩu nhiều mặt hàng này vào Mỹ, đã phản đối mạnh mẽ. Bên cạnh đó còn Trung Quốc, Thái Lan vẫn chưa lên tiếng. Động thái của Chính phủ không chỉ đánh vào nền kinh tế các nước có sản phẩm nhập khẩu vào Mỹ, mà các chuyên gia còn cho rằng nó đánh ngay vào túi tiền của người dân Mỹ khi giá tiêu dùng tăng. Quyết định này liệu có mặt trái tác động đến nước Mỹ? Các chuyên gia vẫn tiếp tục phân tích tác động từ các chính sách tăng/giảm thuế của Chính phủ Mỹ đến nền kinh tế nước này và thế giới. Điều khẳng định rõ ràng sức khỏe của nền kinh tế Mỹ sẽ đo lường bằng giá trị đồng USD và giá vàng sẽ rất nhạy cảm với đồng tiền này. Những phân tích này của chuyên gia làm cơ sở để nhà đầu tư xem xét, phân tích bỏ một phần vốn vào vàng.
Trong khi đó, phân tích của Thomson Reuters GFMS cho rằng thị trường chứng khoán biến động và lo ngại về chính trị trên toàn cầu có thể khiến vàng tăng giá lên mức 1.500 USD/ounce trong năm nay.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 0,7% phiên cuối tuần lên 17,42 USD; phiên trước đó giá đạt mức cao kỷ lục hơn 4 tháng là 17,69 USD. Tính chung cả tuần, giá bạc tăng 2,4%.
Bạch kim tăng giá 0,4% lên 1.014,4 USD/ounce, tính chung cả tuần giá gần như không thay đổi; palađi giảm 0,7% xuống 1.088,47 USD, tính chung cả tuần giá giảm tuần thứ 2 liên tiếp.
Kim loại cơ bản: Giá kẽm cao nhất 1 thập kỷ
Phiên cuối tuần giá kẽm đã lên mức cao nhất 10 năm do USD giảm và tồn trữ kẽm xuống mức thấp nhất kể từ 2008, dấu hiệu cho thấy nguồn cung khan hiếm.
Kẽm kỳ hạn tham chiếu trên sàn London tăng 0,4% lên 3.478 USD/tấn, trong phiên có lúc giá đạt 2.481,85 USD/tấn, cao nhất kể từ 2008. Kim loại này đã tăng giá 7 tuần liên tiếp, kỳ tăng dài nhất kể từ 2016.
Tính từ mức thấp của tháng 12 năm ngoái tới nay, giá kẽm đã tăng khoảng 14%. Năm 2017, kim loại này tăng 29%.
Dự trữ kẽm trên sàn London giảm khoảng 58% trong vòng 12 tháng qua xuống 178.025 USD/tấn sau khi nhiều mỏ lớn tạm dừng khai thác trong mấy năm gần đây.
Số liệu từ Trung Quốc cho thấy nhập khẩu kẽm tinh luyện trong tháng 12 đã tăng 59% so với cùng kỳ năm ngoái.
Về các kim loại khác, giá đồng tăng 1% trong tuần qua; nickel tăng 8% và là tuần tăng giá mạnh nhất kể từ đầu tháng 11.
Kim loại hiếm: Giá cobalt cao nhất 9 năm
Giá cobalt đã tăng lên mức cao kỷ lục kể từ tháng 7/2008 do lo ngại thiếu cung sau sự gián đoạn sản xâuts ở mỏ Ambatovy (Madagascar) trong tháng này.
Cobalt kim loại được sử dụng trong các siêu hợp kim để sản xuất động cơ phản lực; trong khi cobalt hóa chất là thành phần chính trong ắcquy lithium-iron có thể sạc lại dùng trong các loại xe chạy điện.
Cobalt kim loại hiện có giá khoảng 37,25 USD/lb trên thị trường châu Âu, gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái. Trong tháng này, cobalt kim loại đã tăng giá 15%.
Nông sản: Giá cà phê và đường đều tăng
Đồng USD giảm giá cũng hỗ trợ cho các mặt hàng đường và cà phê. Phiên cuối tuần, giá đường thô tăng 0,12 US cent tương đương 0,91% lên 13,36 US cent/lb, trong khi đường trắng tăng 1,8 USD tương đương 0,51% lên 355,60 USD/tấn.
Cà phê arabica cũng tăng giá 1,5 US cent tương đương 1,21% lên 1,2515 USD/lb, tính chung cả tuần giá tăng 3,2% và là tuần tăng mạnh nhất kể từ cuối tháng 12; robusta tăng 4% trong phiên cuối tuần (0,23%) lên 1.767 USD/tấn.
Mặt hàng cao su tăng giá trong phiên cuối tuần do hoạt động mua bù, song tính cung cả tuần vẫn giảm.
Phiên cuối tuần, cao su tại Tokyo giao tháng 7 tăng 1,3 yen lên 205,1 yen (1,88 USD)/kg, nhưng tính chung cả tuần giảm 2% và là tuần thứ 2 liên tiếp giảm.
Dự trữ cao su tại kho của Sàn giao dịch Thượng Hải tuần qua tăng 0,9%.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

20/1

27/1

27/1 so với 26/1

27/1 so với 26/1 (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

63,57

66,14

+0,63

+0,96%

Dầu Brent

USD/thùng

68,61

70,52

+0,10

+0,14%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

44.670,00

44.750,00

-20,00

-0,04%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,18

3,51

+0,06

+1,68%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

187,07

193,77

+2,23

+1,16%

Dầu đốt

US cent/gallon

206,21

213,60

+2,06

+0,97%

Dầu khí

USD/tấn

608,50

629,00

+1,25

+0,20%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

59.560,00

59.830,00

-100,00

-0,17%

Vàng New York

USD/ounce

1.331,10

1.357,20

-10,80

-0,79%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.731,00

4.710,00

-33,00

-0,70%

Bạc New York

USD/ounce

17,02

17,44

-0,17

-0,99%

Bạc TOCOM

JPY/g

60,70

60,70

-0,60

-0,98%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.013,20

1.011,65

-2,00

-0,20%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.107,57

1.092,03

-3,32

-0,30%

Đồng New York

US cent/lb

318,05

319,90

-1,75

-0,54%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.041,00

7.085,00

-53,00

-0,74%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.220,00

2.257,00

+16,00

+0,71%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.416,50

3.478,00

+13,00

+0,38%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.600,00

21.600,00

+220,00

+1,03%

Ngô

US cent/bushel

352,50

356,50

+1,25

+0,35%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

422,75

441,00

+6,50

+1,50%

Lúa mạch

US cent/bushel

258,00

266,00

+5,00

+1,92%

Gạo thô

USD/cwt

12,21

12,34

+0,20

+1,61%

Đậu tương

US cent/bushel

977,25

985,50

-6,75

-0,68%

Khô đậu tương

USD/tấn

331,60

335,70

-4,70

-1,38%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,28

32,79

+0,29

+0,89%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

496,00

493,70

-2,30

-0,46%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.931,00

1.986,00

+26,00

+1,33%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

121,25

125,15

+1,50

+1,21%

Đường thô

US cent/lb

13,25

13,36

+0,12

+0,91%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

146,50

149,80

+0,15

+0,10%

Bông

US cent/lb

83,42

80,48

-1,40

-1,71%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

480,00

487,30

+9,30

+1,95%

Cao su TOCOM

JPY/kg

209,60

202,60

-2,00

-0,98%

Ethanol CME

USD/gallon

1,36

1,38

0,00

-0,14%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg